Featured Content Slider

Latest Post

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013

Hiểu thêm về RAID - PHẦN 2

RAID 1 – Mirroring không sử dụng Stripping

Phương pháp RAID 1 hiện nay cũng được tích hợp bên trong hầu hết những Motherboard . RAID1 là ghi cùng một nội dung lên hai ổ cứng . Một thuận lợi hiển nhiên ai cũng thấy đó là nếu một ổ cứng bị lỗi thì không hề mất bất kì dữ liệu nào . RAID 1 cũng không yêu cầu một tính toán Parity phức tạp nào .
Mảng RAID 1 có thể tiếp tục hoạt động trong trạng thái một ổ cứng lỗi với hiệu suất tương tự như làm việc với cả 02 ổ cunứg một lúc . Nhiều bộ phận điều khiển RAID 1 hỗ trợ Hot-Swap ( nhưng nhiều RAID 1 on-board lại không hỗ trợ điều này ) thì ổ cunứg bị lỗi có thể thay thế và dữ liệu được cập nhật lại mà không cần tắt công tắc nguồn .
Như trên đã nói tới đó là hiệu suất lưu trữ chỉ đạt được 50%


Hình 6 - Dữ liệu được ghi trong RAID 1
Xét về phương diện hiệu suất Đọc/Ghi dữ liệu trong RAID 1 không khác mấy so với Đọc /Ghi chỉ dùng với 01 ổ cứng . Nhiều khi hiệu suất này còn giảm đi đôi chút khi so sánh với hệ thống sử dụng 01 ổ cứng .
Một điều mà ít khi được xem xét tới trong RAID 1 chính là lưu trữ dữ liệu . RAID1 chỉ bảo vệ dữ liệu với những lỗi vật lí trên ổ cứng , nó sẽ không bảo vệ chống lại việc mất dữ liệu liên quan tới phần mềm . Ví dụ Virus sẽ xoá dữ liệu trên ổ cứng thì cũng tương tự như với việc xoá dữ liệu trên cả 02 ổ cứng . Cũng có trường hợp mất dữ liệu do khuyết điểm của ổ vật lí , như Bad Sector , lúc đó có thể bộ phận điều khiển RAID 1 sẽ ghi đồng thời dữ liệu bị mất lên cả 02 ổ cứng .

Ích lợi

  • Độ tin cậy cao .
  • Thực hiện dễ dàng bằng bộ phận điều khiển RAID on-board
  • Hiệu suất đọc dữ liệu có thể cao hơn với hệ thống chỉ có 01 ổ cứng

Không thuận lợi

  • Hiệu suất lưu trữ thấp chỉ được 50%
  • Hiệu suất ghi ổ đĩa có thể chậm hơn với hệ thống chỉ có 01 ổ cứng


RAID 10 và RAID 0+1 – Stripping mức Block thêm Mirroring

Những mức RAID đó là sự kết hợp của RAID0 và RAID1 . Chúng cung cấp tất cả thực hiện việc Đọc/Ghi liên tục của RAID0 để tăng cường hiệu suất làm việc và mức độ an toàn của RAID 1 . Cả Mirroring và Stripping đều không cần những tính toán Parity phức tạp vì vậy mà bộ phận điều khiển RAID không quá đắt tiền .
Một điều không thuận lợi chính mà tương tự như RAID 1 đó là hiệu suất lưu trữ chỉ đạt được 50% . Nhưng bộ phận điều khiển RAID 10 và RAID01 lại rẻ cho nên việc hiệu suất lưu trữ thấp trong những hệ thống nhỏ vẫn chấp nhận được .
Có một lỗi lầm chung khi nghĩ rằng RAID10 và RAID 0+1 là hai khái niệm khác nhau trong cùng một vấn đề . Trong khi hai kiểu RAID là tương tự nhau , và dùng cùng một kỹ thuật lại sử dụng khác nhau . Hầu hết Bộ phận điều khiển RAID on-board trên thực tế hỗ trợ RAID 0+1 , thậm trí lại thường tuyên bố là RAID 10

Hình 7 : RAID 0+1
Hình 8 : RAID 0+1
RAID 0+1 rất dễ để mô tả như là RAID1 trong những RAID0 , hoặc nó là Mirroring của hai mảng Stripping . Lấy 08 ổ cứng , mảng này được chia ra làm 02 mảng RAID0 với 04 ổ cứng trên một mảng và mảng này sẽ sao lưu mảng còn lại .
Với 08 ổ cứng như vậy , cấu hình RAID10 như sau . Đầu tiên chia thành 04 mảng RAID1 và sau đó Bộ phận điều khiển sắp xếp 04 mảng này thành 01 mảng RAID0 duy nhất .

Hình 9 : RAID 10
Nếu quan sát kỹ thực tế không thấy sự khác nhau giữa hai cấu hình RAID này , đơn giản đó chỉ là hai con đường khác nhau cùng đến một đích . Điều đó cho chúng ta thấy yêu cầu đĩa cứng như nhau , hiệu suất sử dụng khoảng trống như nhau , đặc tính kỹ thuật tương tự nhau . Có một điều khác nhau lớn nhất giữa hai cấu hình đó chính là khả năng sửa lỗi . Có 04 đĩa cứng trong cấu hình RAID 0+1 để sửa lỗi và với cùng 04 ổ cứng trong cấu hình RAID 10 , thì 02 ổ đĩa bị hỏng thì tất cả những dữ liệu bị mất . Như vậy chỉ khác nhau ở chỗ số ổ cứng có thể bị hỏng , thì rõ ràng RAID 10 có độ an toàn dữ liệu cao hơn .
Với cấu hình 08 đĩa với RAID 0+1 , những ổ đĩa cứng 1-4 và 5-8 là 02 mảng RAID0 riêng biệt và chúng được Mirroring với nhau . Như chúng ta đã biết nếu một đĩa trong mảng RAID0 bị lỗi thì tất cả dữ liệu trong mảng bị mất . Do đó nếu Disk 1 bị lỗi , thì có nghĩa là những ổ 5-8 chạy một mình theo RAID 0 mà không có dữ liệu lưu trữ thừa ra , vì thế nếu thêm một ổ cứng nữa trong RAID0 này bị hỏng thì có nghĩa chúng ta sẽ mất tất cả dữ liệu .
Ích lợi

  • Không có tính toán Parity phức tạp
  • Bộ phận điều khiển rẻ tiền và hiệu suất làm việc chấp nhận được

Không thuận lợi

  • Hiệu suất lưu trữ thấp chỉ đạt được 50% .


RAID3 và RAID 4 : Stripping với ổ cứng lưu thông tin Parity riêng biệt

Mức RAID này ít được sử dụng hiện nay , hầu hết trong những tình huống lựa chọn sử dụng RAID3 thì RAID 5 chính là sự lựa chọn tốt nhất . Ngoại trừ trường hợp những ứng dụng này luôn luôn yêu cầu đọc dữ liệu với tốc độ cao khi đó RAID3 làm tốt hơn RAID5 . Trong những hệ thống dùng trong gia đình , điều này cho phép bạn tải Game trong mức RAID3 sẽ nhanh hơn RAID 5 , nhưng tất cả chỉ có thế . Hiệu suất ghi trong RAID3 giảm sút do sử dụng ổ đĩa riêng để ghi thông tin Parity và chúng được ghi bất kì lúc nào khi có bất kì dữ liệu nào được ghi lên mảng đĩa dữ liệu .
RAID3 sẽ có công nghệ rẻ hơn so với RAID5 và chỉ hơi phức tạp một chút và không được sử dụng rộng rãi mà chúng có sẵn trong những cấu hình của Bộ phận điều khiển RAID đắt tiền . Ngoại trừ những Bộ phần điều khiển này dùng bộ xử lí RAID NetCell như XFX Revo , rẻ hơn nhiều so với những Card điều khiển RAID 5 .

Hình 10 : RAID 3
Hình 11 : RAID3
RAID3 là mức RAID duy nhất dùng mức Stripping theo từng Byte mà không phải theo từng Block nhiều Byte . Điều đó có nghĩa là File bị chia thành từng Byte và được ghi trên từng đĩa . Điều này cho phép RAID3 đọc những file có kích thước nhỏ cũng rất nhanh , bởi vì với mức RAID Stripping theo từng Block thì lại có có tác đọng nhiều với những File có kích thước nhỏ .
Mức RADI ở giữa RAID3 và RAID5 chính là mức RAID4 . RAID4 vô cùng ít được dùng bởi vì hầu hết nếu không lựa chọn RAID3 thì RAID5 chính là sự lựa chọn tối ưu nhất .
Ích lợi

  • Hệ thống có thể được duy trì khi một ổ đĩa bị hỏng
  • Hiệu suất đọc liên tục tốt hơn RAID5
  • Bộ phận điều khiển NetCell rất rẻ .

Không thuận lợi

  • Do Stripping theo mức từng Byte nên việc Đọc/Ghi ngẫu nhiên sẽ bị ảnh hưởng về hiệu suất làm việc .
  • Ổ đĩa ghi thông tin Parity riêng biệt hay bị “thắt nút cổ chai” dữ liệu .
  • Trong nhiều trường hợp RIAD5 nhanh và rẻ hơn


RAID5 – Stripping theo từng Block và phân chia thông tin Parity

RAID5 là mức RAID được sử dụng trong hầu hết mọi nơi . Không có một tính năng nào của RAID5 được cho là tốt nhất , nhưng nó làm mọi điều trở nên tối ưu hơn , mức hiệu suất lưu trữ là hợp lí .
RAID5 yêu cầu có ít nhất 03 ổ cứng , nhưng hiệu suất của nó tăng lên khi số lượng ổ cứng tăng lên và không cần quan tâm xem khoảng trống trên ổ đĩa có còn để ghi thông tin Parity nữa hay không ( nếu bạn dùng RAID 3 thì phải chú ý tới khoảng trống trên ổ cứng riêng biệt để ghi thông tin Parity xem có còn hay không ) .

Hình 12 : RAID 5 - Dữ liệu được ghi trên ổ cứng
Bất kì ổ đĩa nào trong mảng RAID5 bị hỏng thì dữ liệu đều không bị mất , tất nhiên lúc đó hiệu suất làm việc sẽ giảm đi , và lúc đó không có bất kì dữ liệu thừa được lưu trữ và điều đó nếu hổng tiếp ổ cứng thứ hai thì mất dữ liệu hoàn toàn . Vì vậy khi hỏng một ổ cứng phải lập tức thay thế ngay ổ cứng khác . Hiệu suất làm việc của mảng nhiều ổ cứng khi có một ổ cứng hỏng phụ thuộc vào bộ phận điều khiển và thông thường sẽ chậm hơn trước đó .
Như đã đề cập trước đó khi mảng ổ cứng trong RAID5 bị hỏng một ổ cứng thì hệ thống vẫn làm việc được , nhưng nếu hỏng tiếp ổ cứng thứ hai thì dữ liệu sẽ bị mất hoàn toàn , để chống lại tư tưởng không thay ổ cứng hỏng ngay thì nhiều hệ thống có chạy Hot-Spare . Hot-Spare là một ổ cứng chỉ chạy khi mà ổ cứng trong mảng bị hỏng và Bộ phận điều khiển RAID sẽ tự động tạo lại mảng với ổ cứng mới .

Hình 13 : RAID5
Để có một hiệu suất đạt được như ý trong mảng RIAD5 thì tốt nhất phải có Bộ phận điều khiển phần cứng riêng biệt . Trong khi nhiều Bộ phận điều khiển On-board hỗ trợ RAID5 , những lại không có Bộ xử lí riêng biệt cho những phép tính XOR . Điều đó có nghĩa là hàng triệu phép tính XOR được thực hiện thông qua CPU hệ thống vì vậy sẽ mất thời gian để ghi dữ liệu . Nhưng cũng có thể với những bộ vi xử lí Multi-Core nhanh nhất có thể thực hiện tốt được phép tính XOR nhanh nhất . Những bộ điều khiển RAID5 tốt nhất ít nhất bao giờ cũng có Bộ vi xử lí riêng , bộ phận điều khiển đĩa riêng , điều khiển bộ nhớ và có thêm bộ nhớ trên bảng mạch riêng . Những Card RADI5 cao cấp còn có cả Ắc quy Backup và có cổng Ethernet .

Hình 14 : Card RAID – dùng IOP341 của Intel
Hình 15 : Bộ vi xử lí IOP341 của Intel
Nhân của Bộ phận điều khiển RAID chính là Bô vi xử lí I/O của nó , như Bộ vi xử lí IOP341 của Intel mà được dùng nhiều trong những RAID của máy trạm . Bộ vi xử lí này không như bộ vi xử lí CPU được thiết kế với nhiều mục đích khác nhau , nó được thiết kế chỉ thực hiện một việc duy nhất là thực hiện phép toán XOR . Bộ vi xử lí I/O riêng biệt giải phóng công việc này cho CPU và cho phép đạt hiệu suất cao nhất và nhanh hơn dùng phần mềm RAID . Những Card điều khiển RAID này cũng có Cache trên bảng mạch và cũng làm việc như Cache On-board trên ổ cứng , nhưng thay vì 8MB hoặc 16MB mà nó có tới 128MB và thậm trí tới vài GB .
Khi hệ thống ghi dữ liệu tới mảng ổ cứng , trên thực tế nó ghi trực tiếp tới bộ nhớ , cho phép Bộ phận điều khiển tính toán Parity và quyết định ghi dữ liệu ở đâu trên đĩa . Trong những môi trường máy chủ có thể bị nguy hiểm như thậm trí bị mất điện , những dữ liệu trong Cache sẽ bị mất nếu Card điều khiển không có Ắc quy Backup riêng . Trong những tình huống như vậy Card điều khiển có thể được thiết lập chế độ Write-Through , do đó dữ liệu được ghi trực tiếp lên đĩa và bỏ qua Cache . Điều này sẽ làm giảm hiệu suất làm việc của hệ thống nhưng lại là sự lựa chọn tốt nhất khi không có Ắc quy Backup hoặc để tránh những rủi ro có thể xảy ra . Trong những hệ thống trong gia đình , việc mất dữ liệu trong Cache thực sự không phải là vấn đề quá lớn do đó cách tốt nhất không bao giờ để ngắt nguồn điện .


Trong môi trường máy tính để bàn , RAID5 có thể tăng hiệu suất làm việc với ổ cứng , nhưng nhiều mức RAID khác cũng làm được điều tương tự như vậy và chỉ trong những điều kiện đặc biệt thì người sử dụng thông thường mới sử dụng RAID5 .
Tốc độ đọc dữ liệu nhanh có thể RAID0 cũng làm được , nhưng lại nguy cơ tiềm ẩn mất dữ liệu nhiều . Độ an toàn dữ liệu chính là lợi ích chính mà RAID5 mang lại cho hệ thống để bàn và hiệu suất sử dụng mức lưu trữ lại cao hơn nhiều so với RAID1 hoặc RAID 10/0+1 .
Ích lợi

  • Tính linh hoạt cao .
  • Hỗ trợ rộng rãi
  • Hiệu suất sử dụng ổ cứng cao
  • Hiệu suất tổng thể tốt
  • Bộ phận điều khiển có nhiều sự lựa chọn

Không thuận lợi

  • Bộ phận điều khiển On-board cho hiệu suất thấp
  • Bộ phận điều khiển riêng cho RAID5 có giá thành cao
  • Không phải là sự lựa chọn tốt nhất trong mọi lĩnh vực


RAID 6 – Stripping theo từng khối với phân chia thông tin Parity gấp đôi
Thực tế RAID 6 cũng gần tương tự như RAID5 nhưng có số lượng thông tin Parity nhiều gấp đôi và như vậy dữ liệu được bảo vệ gấp đôi . Mảng nhiều ổ cứng RAID6 có thể chịu đựng được 02 ổ cứng bị hỏng mà không mất dữ liệu , do đó điều đó rất tốt nếu dữ liệu của bạn là vô cùng quan trọng hoặc nếu bạn là người quá cầu toàn . Việc bảo vệ thêm như vậy thì sẽ ảnh hưởng tới hiệu suất làm việc của hệ thống với hiệu suất sử dụng khoảng trống trên ổ cứng .
Hầu hết những máy trạm có bộ phận điều khiển RAID5 thì cũng hỗ trợ cho RAID6 và lúc đó chỉ tăng lên thêm số lượng ổ cứng trong hệ thống RAID5 .

Hình 16 : RAID6
Hình 17 : RAID6
Với cấu hình RAID6 có thể dùng 04 ổ cứng và nó có thể tăng được dung lượng của cả mảng ổ cứng lên cao . Với mảng ổ cứng có dung lượng lớn thì thời gian khôi phục lại sẽ lâu khi thay thế ổ cứng tốt vào chỗ ổ cứng hỏng . Để tạo lại mảng RAID 5 với vài TB có thể mất nhiều giờ và nếu trong quá trình tạo lại dữ liệu nếu một ổ cứng khác bị lỗi thì dữ liệu bị mất hoàn toàn . Trong khi đó RAID6 chống lại những hiện tượng kiểu như vậy sẽ xảy ra .
Ích lợi

  • Có thể khôi phục lại dữ liệu khi 02 ổ cứng bị hỏng .
  • Hiệu suất chấp nhận được nếu được sử dụng Card điều khiển phù hợp .

Không thuận lợi

  • Hiệu suất chậm hơn so với RAID5
  • Bộ phận điều khiển đắt tiền .

Hiểu thêm về RAID - PHẦN 1

Trong vài năm trở lại đây , RAID đã trở nên vô cùng đại chúng . RAID có mặt trên những Mainboard bằng những Chip điều khiển tích hợp ngay trên đó mà không cần những Card RAID cồng kềnh trước kia

Nguyên nhân của RAID được phổ biến rộng rãi như vậy là do tăng tốc độ truy cập dữ liệu , tăng độ tin cậy của dữ liệu hoặc đơn giản để khoe khoang với người khác .
RAID được viết tắt từ Redundant Array of Inexpensive Disks hoặc Redundant Array of Independent Disks . Tên ban đầu của nó liên quan tới kỹ thuật sử dụng một loạt ổ cứng mà không phải sử dụng một ổ cứng .
RAID là cách đã được dùng để tăng hiệu suất và sửa chữa những lỗi trong quá trình làm việc của ổ cứng . Có nhiều kiểu RAID khác nhau , mỗi kiểu có thể mạnh riêng và hạn chế riêng , không một mức RAID nào được cho là tốt nhất và mỗi mức RAID được sử dụng theo những giải pháp riêng biệt được lựa chọn .
Những kiểu RAID khác nhau sẽ có những lợi ích khác nhau , nó có thể được dùng để cho cơ sở dữ liệu với hàng ngàn người truy cập cùng một lúc , cho máy trạm Video HD hiệu suất cao hoặc đơn giản sử dụng trong nhà để lưu trữ những bức hình . Tất nhiên mỗi kiểu sẽ có những yêu cầu về thiết bị khác nhau , và mức đầu tư cũng khác nhau .
Có một số mức RAID tập trung vào hiệu suất hệ thống mà không quan tâm tới lưu trữ những dữ liệu thừa ( Redundance ) , một số khác trước hết lại quan tâm tới hiệu suất lưu trữ mà hiệu suất làm việc có thể chấp nhận được một mức độ nào đó .

Tăng cường hiệu suất

Khi đọc hoặc ghi dữ liệu trên đĩa của ổ cứng sẽ có hạn chế về mặt tốc độ của ổ cứng . Rất không may mắn khi cấu trúc cơ khí của ổ cứng chính là nguyên nhân gây sự chậm trễ khi dữ liệu di chuyển tới những bộ phận khác của máy tính . Những đĩa và những bộ phận cơ khí khác bên trong ổ đĩa chạy với tốc độ nhanh nhưng vẫn không bằng với các thiết bị khác trong PC như RAM .
Sự bổ xung quan trọng nhất của RAID chính tăng tăng hiệu suất cao hơn khi sử dụng một ổ đĩa bằng cách đọc hoặc ghi tới nhiều đĩa cùng một lúc . Theo lí thuyết thì dữ liệu có thể được khôi phục lại từ hai đĩa bằng nửa thời gian từ một đĩa duy nhất , từ 08 đĩa nhanh gấp bốn lần so với 02 đĩa ... như vậy với nhiều ổ cứng có hai ổ đĩa hoặc hai trăm ổ đĩa thì RAID có thể tăng hiệu suất ở một mức độ nào đó .

An toàn dữ liệu :

An toàn dữ liệu là khái niệm mà một mảng nhiều ổ cứng có thể khắc phục được lỗi của một ổ cứng và không mất mất kì dữ liệu nào trên đó . Điều đó được thực hiện thông qua dữ liệu những dữ liệu thừa ( Redundancy ) trên mảng nhiều ổ cứng , có nghĩa là có một số dung lượng đĩa cứng dành cho với lợi ích lưu trữ những dữ liệu phụ . Những dữ liệu thừa có thể cung cấp bằng cách Copy bản sao của tất cả dữ liệu thông qua những thông tin Parity , mà chúng ta sẽ đề cập sau .

Tính sẵn sàng của dữ liệu

Tính sẵn sàng của dữ liệu không nhầm lẫn với Độ an toàn của dữ liệu , khi mà mảng nhiều ổ cứng có thể chứa đựng ổ cứng lỗi nhưng dữ liệu vẫn không bị mất , luồng dữ liệu không bị dán đoạn và dịch vụ không bị ngắt .
Đặc điểm này không thực sự quan trọng cho những máy tính dùng trong gia đình , nhưng nó lại vô cùng cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh . Đôi khi nó không đơn giản chỉ là việc tạm ngừng dịch vụ , trang Web là một ví dụ , nhưng việc thay thế ổ cúng hỏng lại là đơn giản . Tính sẵn sàng của dữ liệu phải bao gồm Độ an toàn của dữ liệu , nhưng Độ an toàn dữ liệu nhiều khi lại không thực sự cần thiết bằng tính sẵn sàng của dữ liệu . Sự thay thế ổ cứng mà không cần tắt hệ thống ( Hot-swap ) với những thiết bị cho phép thay thế kiểu này ( Hot – Spare ) là một đặc điểm của bộ phận điều khiển RAID cho phép thay thế ổ cứng bị hỏng ngay trong khi hệ thống đang làm việc trong mảng nhiều ổ cứng .

Tăng dung lượng

Khi bạn cần nhiều khoảng trống trên một phân vùng duy nhất , đôi khi những ổ cứng có dung lượng lớn nhất hiện tại mà vẫn chưa đủ .
Ví dụ nếu bạn muốn ghi vài giờ Video 1080p ( có độ nét cao ) mà không nén thì với ổ cứng dung lượng 1TB vẫn không đủ để lưu trữ tất cả thông tin . Lúc đó với một mảng nhiều ổ cứng dung lượng 500GB không chỉ tạo thành một phân dùng duy nhất mà còn rẻ hơn nhiều nếu bạn dùng những ổ cứng dung lượng 1TB . Để giải thích rõ hơn về điều này ví dụ bạn có 01 ổ cứng với dung lượng 500GB thì bạn không thể tạo một phân vùng , như ổ C Logic chẳng hạn , có dung lượng lớn hơn 500GB , nhưng bạn có thể ghép 02 ổ cứng 500 GB để tạo thành một ổ C Logic có dung lượng 1TB .

Một số thuật ngữ của RAID

Striping

Hầu hết các mức RAID đều dùng Stripping , nó là một kiểu được dùng để mô tả khi những File riêng lẻ được phân chia thành nhiều gói nhỏ và những gói này được ghi trên 02 ổ đĩa cứng trở lên .
Stripping là cách mà RAID tăng cường hiệu suất truy cập dữ liệu bằng cách đọc , ghi liên tục tất cả các đĩa một cách liên tục . Ví dụ đơn giản để các bạn hình dùng trong một mảng gồm có 04 ổ cứng , một phần tư của mỗi File được ghi trên mỗi đĩa khác nhau . Như vậy mỗi đĩa chỉ có một phần tư của File vì thế mà công việc của nó được nhanh hơn là ghi trên một đĩa duy nhất . Cũng với khái niệm tương tự như vậy với thời gian đọc trở lại một phần tư File trên một ổ đĩa sẽ nhanh hơn đọc cả nội dung một File trên một ổ đĩa .


Hình 1 : Stripping
Stripping có thể làm theo mức từng Byte hoặc theo mức từng khối ( block ) . Stripping mức Byte có nghĩa là mỗi File được chia thành từng phần , mỗi phần có kích thước là một Byte . Ví dụ sử dụng mảng gồm 04 đĩa , thì Byte thứ 1 ghi vào ổ thứ 1 , Byte thứ 2 ghi vào ổ thứ 2 và cứ như vậy , cho tới khi Byte thứ 5 ghi lại vào ổ thứ 1 và quá trình đó lại bắt đầu lại .
Trong trường hợp Stripping theo mức Block , kích thước mỗi Block có thể được thiết lập theo cấu hình bên trong của BIOS trong bộ phận điều khiển RAID . Thông thường kích thước Block ngầm định ban đầu là 512 byte . Nếu file có kích thước dung lượng nhỏ hơn kích thước của Block thì nội dung File này được ghi trên một ổ đĩa cứng .
Stripping là cách làm duy nhất mà không có chứa dữ liệu thừa ( Redundance ) , nhưng khuyết điểm của nó lại không bảo vệ việc mất dữ liệu . điều đó có nghĩa là nếu một ổ cứng bị hỏng thì dữ liệu không thể khôi phục lại được .

Mirroring :

Mirroring là cách đơn giản nhất là sử dụng bằng cách lưu trữ dữ liệu thừa ra . Kỹ thuật này chỉ dùng 02 ổ cứng kết hợp lại với nhau không như Stripping . Khi dữ liệu được ghi trên một đĩa thì ngay lập tức đã được ghi thêm trên một đĩa khác . Nếu một đĩa bị lỗi , những công việc của nó vẫn tiếp tục không bị ngắt quãng và không mất dữ liệu . Giải pháp RAID trong những Mainboard này hay được sử dụng do giá thành của bộ phận điều khiển RAID rẻ nhất . Những mảng nhiều đĩa sử dụng Mirroring thì một nửa trong tổng số dung lượng của ổ cứng là lưu trữ dữ liệu thừa .
Ví dụ : Với Mirroring khi sử dụng 02 ổ cứng 500GB thì khả năng lưu trữ của hai ổ cứng này chỉ là 500GB dữ liệu có ích chứ không phải là 1TB bởi vì 500GB đã ghi dữ liệu thừa .

Parity

Parity được dùng bên cạnh với Stripping nhưng đó là cách mà không mất 50% dung lượng ghi những dữ liệu thừa như trong Mirroring . Trong mảng nhiều ổ cứng sử dụng Parity cho dữ liệu thừa , chỉ một phần khoảng trống trên ổ cứng được sử dụng để lưu trữ thông tin cần để khôi phục lại dữ liệu tất cả mảng nhiều ổ cứng trong trường hợp ổ cứng bị hỏng . Thông tin Parity được tạo ra từ dữ liệu lưu trữ trên ổ cứng bằng phép toán Logic “XOR” .
Bảng dưới đây chính là bảng trạng thái của phép toán Logic “XOR”

Hình 2 : XOR
Bảng trên cho thấy nếu A và B khác nhau thì cho giá trị đầu ra là 1 . Nếu A và B giống nhau thì cho giá trị đầu ra là 0 .
Dựa vào bảng này cho thấy từ bảng kết quả đầu ra nếu biết cột A thì sẽ xác định được giá trị ở cột B và ngược lại nếu biết giá trị cột B sẽ tìm được giá trị ở cột A .

Hình 3 : XOR chuỗi dữ liệu
Như vậy bạn sẽ thấy chỉ cần biết giá trị của hai cột là sẽ tính được giá trị của cột còn lại , vì vậy nếu một ổ cứng nào bị hỏng từ thuật toán Logic XOR sẽ tính được nội dung dữ liệu của ổ cứng bị hỏng .

Hình 4 : XOR chuỗi dữ liệu 03 cột
Cũng từ bảng trên cho thấy chỉ cần biết dữ liệu của 03 cột là sẽ tính toán được dữ liệu ở cột còn lại và cứ như vậy . Để giảm số liệu lưu trữ dư thừa thì chỉ cần tăng số phép tính XOR lên nhiều cột , nhưng bên cạnh đó việc tính toán cũng sẽ trở nên vô cùng phức tạp .
Điều không thuận lợi khi sử dụng Parity cho những thông tin dư thừa đó là tính toán phức tạp . Nếu số cột tham gia vào phép XOR tăng lên , bên cạnh là giảm khoảng lưu trữ dư thừa thì lại mất thời gian tính toán lại khi một ổ cứng nào đó bị hỏng . Nếu một mảng gồm 04 ổ cứng với tốc độ ghi 50MB/s thì bộ phận điều khiển RAID phải thực hiện gần 300 triệu phép tính XOR trong một giây .

RAID 0 - Stripping mức từng khối ( Block ) mà không có dữ liệu dư thừa

RAID0 là một trong những mức RAID hầu như được sử dụng trong các Motherboard hiện nay với mục đích tăng hiệu suất truy cập dữ liệu . Mọi File được ghi lên mảng nhiều ổ cứng , các File được chia thành những Block , mỗi Block có kích thước tuỳ theo thiết lập trong BIOS của bộ phận điều khiển RAID . Điều này có thể tăng tốc việc đọc và ghi trên ổ cứng bởi vì hoạt động của nó được thực hiện đồng thời trên những ổ cứng song song với nhau .

Hình 5 - Dữ liệu ghi trong RAID 0
Tăng cường hiệu suất đọc ghi dữ liệu trên đĩa phụ thuộc vào kích thước của Block và những ứng dụng được sử dụng . Ví dụ một mảng có 04 ổ cứng , với kích thước Block là 512 Byte , nếu File dữ liệu có kích thước 1124 Byte thì sẽ chỉ dùng 03 Block ghi trên 03 ổ cứng mà không sử dụng tới ổ cứng thứ 4

Ích lợi :

  • Hiệu suất làm việc tăng lên khi làm việc với những File có dung lượng lớn
  • Không mất bất kì một dữ liệu dư thừa nào .
  • Rẻ tiền – do tích hợp phần mềm cũng như phần cứng đơn giản

Không thuận lợi :

  • Không khôi phục được dữ liệu khi một ổ cứng bị hỏng
  • Hiệu suất làm việc không tăng lên đối với những ứng dụng trong gia đình .


(còn phần 2)

Uniblue DriverScanner 2013 4.0.10.0 Full tự động cập nhật driver của máy tính

Uniblue DriverScanner 2013 4.0.10.0 Full tự động cập nhật driver của máy tính


UniBlue_driverscanner_2013


Uniblue DriverScanner 2013 là phần mềm tự động quét các driver của hệ thống trên máy tính của bạn và kiểm tra xem nó đã lỗi thời hay chưa (so sánh nó với phiên bản mới nhất của nhà sản xuất).
Uniblue DriverScanner sẽ quét hết các driver của PC của bạn và kiểm tra chúng đối với thư viện toàn diện về các driver mới nhất, để cung cấp cho bạn một danh sách đầy đủ của tất cả những driver cần được cập nhật. Với các phiên bản driver mới hơn, có thể hỗ trợ máy chạy nhanh hơn, ổn định và ít lỗi hơn
Uniblue DriverScanner cũng sao lưu tất cả driver thành một thiết bị bên ngoài, có nghĩa là lần sau khi bạn cài đặt lại hệ thống của bạn, bạn có thể tải lên tất cả driver mới nhất. mà không cần phải chạy lại bản cập nhật

Các tính năng chính:
  • Cập nhật các trình điều khiển mới nhất
  • Tải về trình điều khiển một nhanh chóng và đáng tin cậy từ địa điểm trung tâm
  • Giữ điểm khôi phục lại cho mỗi lần cập nhật trình điều khiển để an toàn tối đa
  • Cài đặt mỗi trình điều khiển mới một cách nhanh chóng và dễ dàng
  • Thưởng thức một giao diện thanh lịch nhưng đơn giản để sử dụng
  • Cập nhật trình điều khiển cho hệ thống 32 hoặc 64-bit chạy Windows XP, Windows Vista hoặc Windows 7,Đặc biệt phiên bản mới đã hỗ trợ win 8 ^^!
  • Phiên Bản Này Hơn phiên bản trước ở chỗ mọi cài đặt đều tự động và sẽ không bắt ơhair reset lại máy ở 1 số driver nữa
UniBlue_driverscanner_2013



DownLoad Version 4.0.10.0
 UniBlue_DriverScanNer.rar | Link Dự Phòng

Setup hệ thống RAID - PHẦN 2

4. Cấu hình RAID
Nếu dùng những cổng điều khiển ổ cứng bằng Chipset hỗ trợ RAID , bạn cần đầu tiên vào Setup của Mainboard và cấu hình chúng thành RAID để thay thế IDE .


Đối với cấu hình khi chọn IDE thì chúng làm việc như cổng IDE thông thường , nếu chọn cấu hình là RAID là cho phép chúng làm việc như kiểu hệ thống RAID.
Trên thực tế nếu bạn không thay đổi cấu hình thành RAID thì hệ thống của chúng ta không xuất hiện cấu hình RAID này trong quá trình POST , bởi vì ngăn chặn chúng ta thiết lập cấu hình lung tung trong hệ thống .
Do đó vào Setup của Mainboard ( bằng cách bấm phím Del sau khi bật máy tính ) để thay đổi sự lựa chọn này . Trong lựa chọn của Mainboard chọn Advanced , Drive Configuration, “Configure SATA As” . Phần lựa chọn này tuỳ thuộc vào nhà sản xuất .



Sau khi thay đổi cấu hình này , bạn cần lưu lại sự thay đổi và thoát ra ngoài .


Cấu hình RAID bằng cách bấm phím trong quá trình POST (Power-On Self Test) . Dùng tổ hợp phím nào để vào phần đặt cấu hình cho RAID sẽ xuất hiện trên màn hình trong quá trình POST và phụ thuộc tuỳ theo nhà sản xuất Chip như :

  • Intel là Control - I,
  • Marvell là Control - M,
  • SiliconImage là Control - S,
  • JMicron là Control - J
  • …..

Trong trường hợp Mainboard dùng 02 Chip để hỗ trợ RAID sẽ có hai ví dụ như một RAID dùng cho Chipset và một RAID khác dùng Chip Marvell 88SE6145 , thì sẽ xuất hiện hai hiển thị cho việc lựa chọn này .
Khi nối hai ổ cứng với phần điều khiển RAID bằng Chipset theo hình dưới đây và bấm Ctrl-I để vào cấu hình hệ thống RAID


Trên màn hình sẽ xuất hiện khác nếu khi cắm ổ cứng vào Chip Marvell để điều khiển RAID , để vào cấu hình hệ thống RAID bấm Ctrl-M



Đối với hệ thống RAID dùng Chipset Intel sau khi bấm Ctrl-I trên màn hình sẽ xuất hiện như sau :




Mọi tiện ích rất đơn giản và dễ sử dụng . Trong ví dụ của chúng ta trên màn hình xuất hiện những thông tin về những ổ cứng cắm trong máy tính .
Đầu tiên chọn Create RAID Volume , để thiết lập hệ thống RAID theo hình dưới đây


Ở đây chúng ta sẽ phải cấu hình như sau :

  • Volume Name : hệ điều hành sẽ truy cập vào RAID thông qua tên này .
  • RAID Level : kiểu RAID mà bạn muốn , RAID0 , RAID1 , hoặc những kiểu RAID khác phụ thuộc vào Chip điều khiển RAID .
  • Disks : chọn những đĩa mà bạn muốn trong mảng RAID
  • Strip size : kích thước của mẩu dữ liệu mà hệ thống RAID sẽ sử dụng . Nếu bạn không thạo lắm thì nên để chế độ ngầm định của nó ( thông thường là 64 KB hoặc 128 KB ) .
  • Capacity : có thể cấu hình dung lượng thấp hơn nếu như chúng ta tạo nhiều RAID Volume ( giống như khái niệm “partition”trong mảng RAID , có nghĩa là có thể tạo hai hoặc nhiều ổ RAID ) . Ví dụ nếu mảng có dung lượng 160GB , chúng ta cấu hình 100GB cho RAID còn 60GB còn lại làm việc như một ổ cứng độc lập tách rời .

Sau khi bấm “Create Volume” , trên màn hình xuất hiện hỏi việc khẳng định cho công việc này và thông báo dữ liệu trên ổ cứng sẽ bị xoá . Bấm “Y” và RAID được thiết lập .


Sau đó trên màn hình xuất hiện về việc tạo xong hệ thống RAID




5. Cài hệ điều hành Bây giờ bạn cần cài hệ điều hành sau khi khai báo xong cấu hình RAID của phần cứng . Chúng ta sẽ cài hệ điều hành Windows XP trong phần hướng dẫn này .
Cho đĩa CD cài đặt Windows XP vào ổ CDROM , khởi động máy tính cho phép ổ CD khởi động trước. Có một vấn đề là Windows XP không tự động nhận ra hệ thống RAID , do đó nó nghĩ rằng máy tính không có ổ cứng cài đặt như thông báo theo hình dưới đây :


Lúc này bạn cần phải có đĩa mềm mà chứa phần Driver của RAID . Phần Driver của RAID được chứa trong đĩa CD-ROM đi kèm theo Mainboard khi mua , hoặc theo Card cắm thêm điều khiển RAID . Ứng dụng này được nằm theo thư mục gọi là RAID hoặc tương tự như vậy .
Trong ví dụ trên nó là file có tên “f6flpy32_STOR_5.5.0.1035_PV.zip” , chúng ta giải nén và chạy File có phần mở rộng là .exe , nó sẽ yêu cầu chèn đĩa mềm trắng vào ổ mềm và tạo thành đĩa cần thiết để sử dụng .


Nếu bạn không có đĩa CD này thì cần tải trên trang Web của nhà sản xuất Mainboard hoặc Chipset .
Khi Windows XP CD-ROM bắt đầu quá trình tải , chúng ta sẽ theo dõi khi có dòng thông báo “Press F6 if you need to install a third party SCSI or RAID driver…” thì bấm ngay phím F6 và chèn đĩa mềm vừa tạo vào ổ mềm .


Tự bản thân Windows không xác định được vị trí của Driver RAID như hình dưới đây


Khi màn hình xuất hiện như trên bạn bấm phím S để chọn từ ổ mềm Driver mà Windows sẽ tải . Như hình dưới


Trong trường hợp ví dụ trên , hãy chọn “Intel (R) 82801GR/GH SATA RAID Controller (Desktop ICH7R/DH)” – do chúng ta dùng Chip ICH7R.

Sau khi chọn Driver trên màn hình sẽ hiển thị Driver sẽ được cài đặt như hình dưới


Từ bây giờ Windows sẽ nhận ra mảng RAID chính xác của nó . Trong ví dụ trên , chúng ta dùng hệ thống RAID0 với 02 ổ cứng 80 GB và Windows sẽ nhận dạng 160 GB như hình dưới đây :


Bạn nên lưu ý số hiển thị trên màn hình nhiều khi sẽ thấp hơn một chút . Ví dụ ổ cứng dung lượng 80GB thông thường nhận 74.53GB , đó là nguyên nhân tại sao bạn nhìn thấy 150GB mà không phải là 160GB .
Bây giờ cho phép quá trình cài đặt Windows như bình thường , cài đặt các Driver phần cứng đi kèm theo và cài những chương trình phần mềm ứng dụng cần thiết để sử dụng .
Thông thường phần điều khiển RAID cũng kèm theo phần mềm quản lí mà bạn có thể cài chương trình theo dõi hệ thống RAID .
Theo ví dụ mà đưa ra thì phần mềm quản lí có tên là Intel Matrix Storage Manager , nó cho phép bạn xem tổng quát hệ thống RAID và kiểm tra trạng thái RAID nếu chúng ta dùng nhiều ổ cứng trong hệ thống .



Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

Setup hệ thống RAID - PHẦN 1

1.Giới thiệu :

RAID được viết tắt từ Redundant Array of Independent Disks và cần ít nhất hai ổ cứng để thiết lập một mảng RAID với mục đích là :
Tăng cường tốc độ truy cập dữ liệu hệ thống lưu trữ hoặc ( RAID 0 )


  • Tăng cường độ tin cậy về mặt dữ liệu ( RAID 1 )
  • Hoặc cả hai mục tiêu trên .

Trong RAID0 dữ liệu được ghi xen kẽ với mục đích để tăng cường tốc độ truy cập dữ liệu trong ổ cứng . Nó làm việc bằng cách chia những file ghi trên đĩa thành nhiều mẩu ( gọi là xen kẽ ) và ghi mỗi mẩu trên những ổ cứng khác nhau . Ví dụ nếu bạn có file với dung lượng 200KB và 02 ổ đĩa cứng , nó sẽ cắt thành hai mẩu 100KB mỗi một mẩu ghi trên ổ cứng khác nhau .




Chúng ta sẽ giải thích tóm tắt như sau : trên thực tế mỗi một mẩu có dung lượng nhất định tuỳ theo cấu hình của RAID khi chúng ta thiết lập hệ thống . Nếu hệ thống RAID0 thành những mẩu 128KB thì nó sẽ chia file dung lượng 200 KB của chúng ta thành 02 mẩu 128KB ( trong đó sẽ có một mẩu 28KB trống ) . Nếu hệ thống của chúng ta dùng một mẩu 32KB thì 200KB của chúng ta được chia thành 8 mẩu 32KB và hệ thống sẽ gửi 04 mẩu cho mỗi đĩa .
Như thế thì như thế nào là hiệu quả nhất . Trong ví dụ chúng ta đưa ra thay vì ghi trên một đĩa một file dung lượng 200KB thì mỗi đĩa sẽ ghi dung lượng là 100KB file lưu trữ như vậy xét về mặt lí thuyết thời gian lưu trữ 100KB bằng một nửa thời gian lưu trữ 200 KB . Điều cơ bản trong RAID0 là đặt những ổ cứng làm việc song song với nhau .
Dung lượng tổng cộng của ổ cứng trong hệ thống RAID0 bằng tổng dung lượng của hai ổ đĩa . Nếu chúng ta dùng 02 ổ cứng 80GB thì hệ thống đĩa của chúng ta là 160GB . Do đó nếu bạn muốn tăng hiệu suất làm việc của hệ thống thì bạn có thể xem xét việc mua 02 ổ cứng dung lượng nhỏ và thiết lập cấu hình hệ thống dùng RAID0 thay thế cho việc mua 01 ổ cứng có dung lượng lớn .



RAID1 , không phải là cải tiến hiệu suất công việc nhưng nó có mục đích để nâng cao độ tin cậy của dữ liệu . Nó làm việc bằng cách Copy mọi thứ gửi tới ổ cứng thứ nhất và gửi tới ổ cứng thứ hai , người ta hay gọi nó là “mirroring” . Có thể coi như RAID1 là một hệ thống lưu trữ Back-up phần cứng . Nếu ổ đĩa thứ nhất hỏng thì ổ đĩa thứ hai thay thế ngay lập tức .


Do đĩa cứng thứ hai lưu trữ tương tự như đĩa cứng thứ nhất nên dung lượng lưu trữ trên toàn hệ thống bằng dung lượng đĩa cứng thứ nhất . Nếu bạn có 02 ổ cứng dung lượng 80GB , thiết lập cấu hình hệ thống RAID 1 thì tổng số dung lượng hệ thống là 80GB .

Nếu chúng ta quan tâm đến độ an toàn dữ liệu thì RAID 1 là cách nên làm .

Còn có những cấu hình RAID khác cũng rất thuận tiện nhưng phần cứng điều khiển RAID phải hỗ trợ ( hầu hết tất cả các card điều khiển dều hỗ trợ RAID0 và RAID1 ) . Dưới đây là tóm tắt một số RAID thông dụng nữa khác mà hệ thống của chúng ta có thể hỗ trợ .

RAID 0+1 : Hệ thống dùng RAID0 và RAID1 cùng một lúc . Nó cần 04 ổ cứng giống hệt nhau . Nếu một ổ cứng hỏng thì hệ thống trở thành RAID0

RAID 10 : Hệ thống dùng RAID0 và RAID1 cùng một lúc . Nó cần 04 ổ cứng giống hệt nhau . Nếu một ổ cứng hỏng thì hệ thống trở thành RAID1 .
RAID5: Nó là hệ thống RAID0 lưu trữ những thông tin Parity cho độ tin cậy cao hơn . Nó cần ít nhất 03 ổ cứng . Đối với hệ thống có 03 ổ cứng thì tổng số dung lượng lưu trữ hệ thống kích thước của 01 ổ cứng nhân với 2 . Ví dụ có 03 ổ cứng 80GB thiết lập hệ thống dùng RAID5 thì dung lượng toàn bộ hệ thống lưu trữ là 160KB , trong đó dùng lượng tương đương với 1 ổ cứng dùng để lưu thông tin Parity


JBOD: được viết tắt từ “Just a Bunch of Disks” và không phải là hệ thống RAID nó không phải với mục đích cải thiện hiệu suất của ổ cứng hay độ tin cậy . Nó dùng để ghép những ổ cứng có dung lượng khác nhau thành một dung lượng lưu trữ duy nhất . Ví dụ : nếu hệ thống dùng JBOD thêm ổ cứng 40GB với ổ 80GB để thành 120GB


Chúng ta cũng có thể kết hợp theo hình dưới đây


2. Yêu cầu
Để có hệ thống RAID trong máy tính , bạn cần hai điều :

· Có phần điều khiển RAID .
· Ít nhất hai ổ cứng.
Ngày nay có nhiều Mainboard tích hợp sẵn điều khiển RAID nên chúng ta dễ dàng thiết lập hệ thống RAID .
Đầu tiên chúng ta kiểm tra xem trên Mainboard có tích hợp phần điều khiển RAID hay không . Để làm được điều này tốt hơn hết chúng ta nên đọc sách hướng dẫn đi kèm theo Maiboard . Hoặc cũng có thể xem Chipset của Mainboard - loại South Bridge ( hay được gọi là ICH , I/O Controller Hub đối với Chipset của Intel ) có chữ R thì có nghĩa là hỗ trợ RAID . Ví dụ Chip ICH7 thì không có nhưng ICH7R thì có tính năng này . Tương tự như thế đối với những nhà sản xuất khác . Ví dụ VIA VT8237R thì có RAID , những VT8237 thì không có .
Có một vài nhà sản xuất gọi RAID theo tên gọi do họ đặt ra như “Intel Matrix Storage” hoặc “nVidia MediaShield Storage” hoặc đại loại như vậy .
Nhiều Mainboard có những Chip thêm vào cung cấp nhiều cổng dùng cho ổ cứng của các hãng như : SiliconImage, JMicron, Marvell, Promise và HighPoint . Thông thường những Chip thêm vào này có tích hợp với phần điều khiển RAID . Do đó nếu những Chipset của Mainboard không hỗ trợ RAID nhưng những Chip thêm vào thì lại có , lúc đó thì bạn phải cài ổ cứng vào cổng gắn với Chip này mà không dùng cổng ổ cứng từ Chipset South Bridge .
Theo hình dưới đây :


Chúng ta xem chi tiết Mainboard Intel D975XBX2 trong bài này . Mainboard này có 08 cổng SATA II trong đó : 04 cổng được điều khiển bởi Chipset (Intel 975XBX, dùng ICH7R SouthBridge) và 04 cổng được điều khiển bởi Chip Marvell 88SE6145 . Cả hai Chip này đều có tích hợp điều khiển RAID , nhưng nếu Chipset dùng loại SouthBridge khác ( ví dụ ICH7 ) thì chúng ta dùng RAID ở 04 cổng SATA II phụ từ Marvell 88SE6145 .
Trong tình huống trên chúng ta có 02 Chip cho phép dùng RAID nên những ổ cứng phải được lắp theo nhóm cổng . Intel dùng màu đen trên cổng SATA nối với Chipset và màu xanh nước biển trên cổng SATA nối với Chip thêm vào . Do đó 02 ổ cứng của chúng ta phải cắm trên cổng cùng một màu . Đối với Mainboard mà Chipset có sẵn RAID thì chúng ta hay thích sử dụng những cổng này để nối với ổ cứng ( trong hình trên là cổng màu đen ) .
Nếu Mainboard của bạn không hỗ trợ RAID thì phải dùng Card điều khiển RAID cắm thêm vào máy tính .

3. Lắp đặt phần cứng
Quá trình lắp cài đặt RAID được chia thành 03 phần :
· Lắp đặt phần cứng , lúc đó bạn cắm ổ cứng vào máy tính của mình vào những chỗ mà sẽ hỗ trợ cho hệ thống RAID .
· Cấu hình RAID , khi đó bạn thiết lập hệ thống để dùng 02 ổ cứng như là một mảng RAID .
· Cài đặt hệ điều hành , bạn cần hệ điều hành tải Driver riêng biệt để nhận ra mảng RAID của bạn .
Một điều cần chú ý , nếu có dữ liệu quan trọng trên ổ đĩa thì bạn phải Backup trước vì trong quá trình cài đặt hệ thống RAID mọi dữ liệu trên ổ cứng trước kia sẽ bị xoá hoàn toàn .
Việc cắm ổ cứng là điều vô cùng đơn giản : cài ổ cứng vào máy , nối dây nguồn vào mỗi ổ cứng , cắm cable tín hiệu của ổ cứng vào cổng ổ cứng tương ứng trên Mainboard ( nếu Mainboard không hỗ trợ RAID thì phải mua Card điều khiển RAID và nối cable tín hiệu ổ cứng vào Card đó ) . Tất nhiên tất cả công việc trên thực hiện trong lúc máy tính tắt .
Trong hướng dẫn này chúng tôi dùng Mainboard Intel D975XBX2 và 02 ổ cứng Samsung HD80HJ (80 GB, SATA-300) .
Một điều quan trọng để dùng những cổng mà có thể mang lại hiệu quả cao nhất là ổ cứng của chúng ta cũng phải đạt được đúng tính năng kỹ thuật của nó . Có hai chuẩn ổ cứng chính hiện nay là PATA ( hay còn gọi là IDE ) và SATA . Cổng PATA ngày nay ít được sử dụng và cổng SATA là chuẩn đang được thông dụng . Nếu lắp ráp hệ thống mới chúng ta không nên dùng ổ đĩa chuẩn PATA .
PATA có thể còn hai tốc độ ATA100 và ATA133 . Hiển nhiên tốt nhất chúng ta nếu dùng loại ổ cứng này thì dùng ổ ATA133 cùng với cổng ATA133 . Để tăng hiệu suất cao nhất không nên hai ổ cứng dùng chung một Cable ở chế độ Master và Slave và nên mỗi ổ dùng Cable riêng với chế độ Master . Thật không may mắn những Mainboard mới không có nhiều hơn hai kênh IDE trên Mainboard nên việc lựa chọn dùng những ổ cứng PATA là kém .
Chúng ta cũng không nên quên rằng cổng PATA cũng có thể hỗ trợ RAID , như hình dưới đây


Ở hình trên cổng PATA không được điều khiển bằng Chipset mà được điều khiển bởi Chip thêm vào để hỗ trợ RAID là GigaRAID.
Do PATA dần dần bị loại bỏ khỏi hệ thống nên chúng ta tập trung và SATA .
SATA có thể có hai tốc độ : SATA I ( 1.5Gbps) và SATA II ( 3 Gbps) . Tốt nhất là ổ cứng SATA II nối với cổng SATA II trên Mainboard .
Việc cài đặt rất dễ dàng . Nối một Cable SATA vào một ổ cứng và nối cable nguồn SATA và ổ cứng ( nếu nguồn cung cấp của bạn không có dây cable để nối với nguồn của ổ SATA thì phải có Adaptor để chuyển đổi ) , theo hình dưới đây :


Đầu khác của Cable SATA cắm tới cổng SATA trên Mainboard . Cách tổ chức tốt nhất là dùng những cổng có số nhỏ trước . Ví dụ nếu cổng trên Mainboard dùng Chipset SouthBridge ICH6 có ghi SATA0, SATA1, SATA2 và SATA3 . Chúng ta sẽ dùng cổng SATA0 và SATA1 . Nên nhớ rằng bạn phải cắm Cable vào cổng mà hỗ trợ RAID trên Mainboard ( hoặc trên Card điều khiển RAID cắm thêm ) , theo hình dưới đây
(còn phần 2)

Connectify Pro 4.3.3.26694 - Biến Laptop thành thiết bị phát sóng Wifi - Hỗ trợ Windows XP

Connectify Pro 4.3.3.26694

[IMG]

[IMG] Connectify là ứng dụng cho phép biến máy tính của bạn thành "trạm phát sóng" Wi-Fi có thể kết nối Internet với các thiết bị kết nối không dây thông qua sử dụng dịch vụ Wi-Fi hotspot. Với phần mềm, bạn có thể yên tâm dữ liệu được bảo mật an toàn vì tất cả các kết nối thông qua Connectify đều đã được mã hóa.


[IMG]

Ngoài ra, Connectify có thể sử dụng được ngay cả khi không có mạng Internet. Có nghĩa là nó sẽ tạo ra một mạng Wi-Fi nội bộ và bạn có thể dễ dàng chia sẽ các tập tin giữa các thiệt bị của mình ( PCs, iPads, và smartphones) chỉ bằng cách kéo thả (drag and drop).

[IMG]

[IMG] Những tính năng nổi bật của Connectify PRO:
♦ Chia sẻ wifi từ mạng 3G/4G.
♦ Tự động tìm kiếm các thư mục, ổ đĩa, máy chủ và các dịch vụ từ xa được chia sẻ trên mạng = kết nối wifi.

[IMG]

[IMG] Platform: Windows 7/2008/(XP và Vista chỉ hỗ trợ Ad-Hoc Mode)

[IMG]
[IMG] + [IMG]
(Có kèm thêm bản 3.6 - 3.7 hỗ trợ XP)

[IMG] Notes:

  • Với win Xp yêu cầu Microsoft .NET Framework 4.5 để cài đặt và sử dụng
  • Dùng file keygen để reg key đăng kí bản quyền.
  • File keygen đã dc mình scan với [IMG]
  • [3/42] Link scan virus: https://www.virustotal.com/file/4a6...cef0e8ba79605a1dfcf560c48712ca92dd1/analysis/
  • Ở chế độ Ad-Hoc chỉ có thể share mạng internet giữa 2 laptop có wifi với nhau
  • Cài connectify trên win 7 có thêm chức năng Access Point nên hỗ trợ chia sẻ mạng với smart phone/ tablet (XP ko hỗ trợ Access Point)
  • Bỏ chọn ở mục Allow Local Network Access khi phát wifi nhé, chức năng này dùng cho việc gửi và nhận file.
[IMG] Các bước cài đặt:
1. Cài đặt Connectify Hotspot PRO 4.3.3 . Cần có .NET Framework 4.5 - Nếu máy tính chưa cài đặt, phàn mềm sẽ tự động download về và cài cho bạn
2. Ngắt mạng - Vào menu chọn Enterlisence key, điền vào key với mail ( Lấy trong file download về và bấm OK )
3. Chỉnh sửa file host để không bị block key , mở my computer, mở thư mục C:\WINDOWS\system32\drivers. Thêm những dòng sau vào file hosts.
127.0.0.1 updates.connectify.me

Test midle sidebar

Health

Được tạo bởi Blogger.

Người theo dõi

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Blog' Chung Lợi - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website Published by Mas Template
Proudly powered by Blogger