Featured Content Slider

Latest Post

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

Acronis Snap Deploy - Ghost Server

Như các bạn đã biết hiện nay phần mềm Ghostcast Sever đang sử dụng rất nhiều trong các mô hình mạng LAN hiện nay để bung File Backup cho các Client. Phần mềm này cũng có nhiều ưu điểm nhưng nó cũng có nhiều nhược điểm.

Nhược điểm:

- Phải cấu hình boot sever phức tạp - Phải tạo bản Ghost để sử dụng nhiều máy cũng phức tạp
- Phải boot ở máy Client


Nhưng hiện nay trên thị trường đã có một hãng rất nổi tiếng với các phần mềm Backup, ghi đĩa, boot ngang ngửa với Sysmantec nhưng có nhiều ưu điểm hơn đó là Acronis
Mình xin giới thiệu phần mềm Acronis Snap Deploy for PC v3.0.3183 dùng để cài bung bản Backup cho các máy Client hàng loạt rất tiện lợi.
Ưu điểm:
- Tạo File PXE để các Client boot không cần boot bằng USB, Floppy..
- Các client sau khi bung file Backup không cần chỉnh lại tên máy, IP.. (Cái này ghost không làm được)
- Có thể làm hàng loạt trên các máy con.
- Sử dụng giao diện đồ họa trực quan.
Yêu cầu:
- Máy Sever phải có DHCP (Nên dùng Windows sever 2003) hoặc Router phải có DHCP
- Client phải có Card mạng hỗ trợ boot on LAN PXE
Sever
Cài đặt và cấu hình DHCP cho sever
Cài đặt và cấu hình Acronis Snap Deploy for PC
Client
- Boot từ LAN
Bắt đầu nhé.

Phần 1. Cài đặt và cấu hình DHCP trên Sever.
Trong hộp thoại Add or Remove Programs ta chọn Add/Remove Windows Components


Chọn Networking Services/Nhấn Details

Chọn Dynamic Host Configurations Protocol (DHCP)

Sau đó nhấn OK và next cho nó cài đặt khi hiện ra bảng Finish

Cấu hình DHCP
Sau khi xong ta vào Start/Administrator Tools/DHCP

New Scope để định nghĩa dải IP mà DHCP server sẽ dùng để cấp phát


Điền tên Scope tùy ý:


Nhấn Next sau đó điền vào giải IP cần cấp phát.


Nhập vào giải IP để dành sau này (Cái này nó sẽ không cấp trong IP cho Client) sau đó nhấn Add.


Để mặc định thời gian cấp IP động cho Client là 8 ngày.


Rồi nhấn Next
tiếp theo bạn đánh IP của Router của bạn vào VD của tui là 192.168.1.254 rồi nhấn vào Add


Next bạn đánh vào IP của Máy Sever (VD 192.168.1.1)

Nhấn Next chọn Yes,I want to Activate this scope now


Nhấn Finish.
Rồi vào chọn Authourie rồi chon Refresh bao giờ nó hiện ra màu xanh là được


Màu xanh là OK














Phần 2 .Cài đặt và sử dụng
2.1 Cài đặt
Các bạn cài đặt 4 thành phần:
- Install Acronis Snap Deploy Management Console
- Install Acronis License Sever
- Install Acronis OS Deploy Sever
- Install Acronis PXE sever
Nhưng có một chú ý khi cài đặt nhé.
Install Acronis License Sever cài xong bạn phải add K.@.y vào mới cài được những cái tiếp theo.
2.2 Cấu hình
Làm boot sever bằng Acronis PXE sever làm cái này máy Client sẽ nhận boot từ sever không cần boot bằng USB, CD-Rom...
Bạn mở Acronis Snap Deploy Management Console

Sau đó chọn Configure Acronis PXE sever



Trong mục Update PXE Winzard bạn chọn Acronis Deploy Agent


Trong mục Select default bootmenu item bạn chọn là Acronis Deploy Agent
Start automatically affter là 0 cho nó boot luôn vào


Mục Password Protection bạn có thể đặt mật khẩu khi boot ở máy Client nó sẽ hỏi. Hoạc không cần đặt.


Rồi Next cho tới khi hiện bảng OK lên là xong.

Phần 3: Tạo một kịch bản để bung file backup cho các client.

Từ khung chính Acronis Snap Deploy Managerment Consoler bạn chọn Manager Deployment
Sau đó chọn thẻ Templates → Create Templates rồi nhấn Next
Đến chỗ Select A Master Image file to be used deployment bạn chọn File backup đã để trên sever nhé.


Sau đó Next tiếp đến Computer Name chỗ này nếu bạn trong mạng Domain thì đánh tên Domain vào nếu mạng Workgroup thì đánh tên nhóm vào


Trong mục Network Setting chọn để IP động cho nó dễ


Sau đó bạn cứ Next thôi chỗ đặt tên Template bạn đặt gì thì tùy chọn VD: Benh Vien Tin Hoc.


Thế là xong phần tạo kịch bản.
Phần 4: Boot Từ Clien và Bắt đầu bung File Backup
Khi các máy con được khởi động nó sẽ tự nhận DHCP từ Sever
Nó sẽ vào màn hình Boot của Acronis




Bây giờ ta điều chỉnh trên sever
Máy Sever sẽ cho biết các máy nào đang được boot vào nó sẽ cho bạn biết máy nào và IP là bao nhiêu đang kết nối tới
Bạn chọn Manual Deployment

Rồi nhấn Next cho tới khi chọn kịch bản ban nãy bạn tạo ra. Nhấn next nhé rồi kết thúc bằng Proset

Máy Client khác hoạt động khi nào xong nó tự khởi động lại và tự cấu hình

Chúc thành công !


Link download 
Acronis Snap Deploy 4.0.268
http://www.mediafire.com/?o8z94hzkn88gq
Download video hướng dẫn
http://www.mediafire.com/?sf7emjl5anadgng 

Từ điển lạc việt 2012 full - Activate 2029

Bài viết này mình sẽ hướng dẫn các bạn cài đặt và bẻ khóa 1 cách dễ dàng, dễ hiểu, chi tiết bằng hình ảnh từ điển lạc việt 2012 for students mtd11

Link Download:  
http://download.vietgle.vn/tu-dien/sinh-vien/mtdForStudents_Setup.msi 

Link bẻ khóa:  http://www.mediafire.com/?5rxt1h1m3vz73ha
 



Các tự điển mới trong phiên bản này: 
* Tự điển Tiếng Việt.
* Tự điển Viết tắt Tiếng Anh.
* Tự điển Tiếp tố Anh - Việt. Tác giả biên soạn: ông Nguyễn Văn Bền

Những tính năng mới: 

* Dịch một đoạn văn bản Tiếng Anh, khi máy tính có kết nối internet.
* Phân tích nghĩa câu.
* Liệt kê các từ liên quan với mục từ đang tra,
* Từ đồng nghĩa, phản nghĩa,
* Các định nghĩa liên quan

Mục từ: 

* Bổ sung hơn 50 ngàn mục từ mới trong từ điển Anh Việt và Việt Anh
* Bổ sung hơn 80 ngàn cụm từ và ví dụ trong từ điển Anh Việt
* Điều chỉnh sửa đổi nội dung đã có.


Với mtd9 EVA, bạn có thể: 

* Tra cứu từ Anh sang Việt, từ Việt sang Anh, giải thích mục từ tiếng Việt, từ viết tắt tiếng Anh, tham khảo các tiếp đầu ngữ và tiếp vĩ ngữ v.v...
* Tham khảo các từ đồng nghĩa, phản nghĩa, các mục từ liên quan với từ đang tra cứu v.v...
* Dịch tự động một đoạn văn khi có kết nối internet vào máy chủ của Lạc Việt.
* Phân tích nghĩa của một từ, cụm từ, một câu.
* Tra cứu nhanh AutoLook, còn gọi là tra tự động trên mọi trình soạn thảo văn bản
* Tra chéo từ Việt sang Anh và Anh sang Việt tức thời.
* Tra bằng cách kéo-và-thả trong mọi cửa sổ giải nghĩa mục từ
* Nghe phát âm mục từ và nghe đọc văn bản tiếng Anh và tiếng Việt
* Tạo từ điển mới theo ý mình
* Sao chép, xoá bỏ, thêm từ điển vào chương trình.
* Sửa chữa nội dung mục từ (chỉ dành cho từ điển mới soạn và từ điển của phiên bản cũ).
* Tùy biến màu sắc hình ảnh giao diện theo ý mình.
* Phối hợp nhiều từ điển vào trong cùng một giao diện
* Cập nhật thông tin thường xuyên từ máy chủ của Lạc Việt.

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

Ngăn chặn virus nhiễm từ USB vào máy tính

Phrozen Safe USB là một công cụ hữu ích giúp bạn vô hiệu hóa việc sử dụng các thiết bị USB trên máy tính cá nhân của mình, do đó bạn có thể bảo vệ dữ liệu của mình khỏi các phần mềm độc hại hoặc ai đó muốn sao chép dữ liệu trái phép trên máy bạn thông qua USB.
Download Phrozen Safe USB tại đây. Dung lượng chương trình rất nhỏ gọn chỉ hơn 800 KB.
Trong lần khởi động đầu tiên, Phrozen Safe USB sẽ chạy ngầm dưới khay hệ thống, chương trình chỉ chiếm dụng 3 MB bộ nhớ RAM mà thôi.
Cách hoạt động của Phrozen Safe USB rất đơn giản, trong giao diện chương trình làm việc tại USB Status có 3 tùy chọn:
Ngăn chặn virus nhiễm từ USB vào máy tính
- USB Devices fully operational: chế độ này bạn hoàn toàn có thể kết nối USB với máy tính và làm việc bình thường.
- USB Devices in read only mode: USB được phép kết nối với máy tính nhưng bị hạn chế tính năng trừ việc đọc dữ liệu.
- USB Devices disactivated: USB bị chặn khi cắm vào máy tính.
Ngăn chặn virus nhiễm từ USB vào máy tính
Để thay đổi chế độ thiết lập, bạn phải chuột vào biểu tượng hình USB dưới khay hệ thống rồi chọn 1 trong 3 chế độ muốn chuyển đổi. Để chương trình chạy thường trực khi khởi động máy tính bạn tick chọn Start Phrozen Safe USB with Windows.
Tóm lại, Phrozen Safe USB là một ứng dụng nhỏ gọn nhưng hữu ích với những ai hay sử dụng USB để chia sẻ dữ liệu. Ngoài việc cài Phrozen Safe USB bạn nên cài một trình antivirus đủ mạnh để bảo vệ dữ liệu quý giá của mình trước sự nguy hại của các chương trình độc hại và các cặp mắt tò mò.

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

RAID là gì và có mấy loại RAID ?

RAID là gì và có mấy loại RAID ?

Trong những năm gần đây việc đầu tư raid cho máy tính để bàn hoặc cho những hệ thống máy tính lớn là điều cần thiết. Trong vài năm trước nghe nói raid có thể gọi là một thứ gì đó xa xỉ nhưng so với thị trường thiết bị máy tính ngày nay và với việc bị mất dữ liệu, hư ổ cứng thì điều mọi người nghĩ đến đầu tiên là sử dụng raid cho hệ thống của mình. Đa số các mainboard ngày nay đều có công nghệ RAID hoặc có hỗ trợ slot cắm card RAID Controller nhưng không phải ai cũng biết cách sử dụng hiệu quả. Bài viết tôi chỉ giới thiệu thông tin cơ bản về RAID. Về cách cấu hình , create array... raid cứng cũng như raid mềm thì các bạn search trong diễn đàn hoặc google hoặc đọc thêm document của máy.





A. Vậy RAID LÀ GÌ ?

RAID là chữ viết tắt của Redundant Array of Independent Disks. Ban đầu, RAID được sử dụng như một giải pháp phòng hộ vì nó cho phép ghi dữ liệu lên nhiều đĩa cứng cùng lúc. Về sau, RAID đã có nhiều biến thể cho phép không chỉ đảm bảo an toàn dữ liệu mà còn giúp gia tăng đáng kể tốc độ truy xuất dữ liệu từ đĩa cứng. Dưới đây là năm loại RAID được dùng phổ biến:

1. RAID 0

Đây là dạng RAID đang được người dùng ưa thích do khả năng nâng cao hiệu suất trao đổi dữ liệu của đĩa cứng. Đòi hỏi tối thiểu hai đĩa cứng, RAID 0 cho phép máy tính ghi dữ liệu lên chúng theo một phương thức đặc biệt được gọi là Striping. Ví dụ bạn có 8 đoạn dữ liệu được đánh số từ 1 đến 8, các đoạn đánh số lẻ (1,3,5,7) sẽ được ghi lên đĩa cứng đầu tiên và các đoạn đánh số chẵn (2,4,6,8) sẽ được ghi lên đĩa thứ hai. Để đơn giản hơn, bạn có thể hình dung mình có 100MB dữ liệu và thay vì dồn 100MB vào một đĩa cứng duy nhất, RAID 0 sẽ giúp dồn 50MB vào mỗi đĩa cứng riêng giúp giảm một nửa thời gian làm việc theo lý thuyết. Từ đó bạn có thể dễ dàng suy ra nếu có 4, 8 hay nhiều đĩa cứng hơn nữa thì tốc độ sẽ càng cao hơn. Tuy nghe có vẻ hấp dẫn nhưng trên thực tế, RAID 0 vẫn ẩn chứa nguy cơ mất dữ liệu. Nguyên nhân chính lại nằm ở cách ghi thông tin xé lẻ vì như vậy dữ liệu không nằm hoàn toàn ở một đĩa cứng nào và mỗi khi cần truy xuất thông tin (ví dụ một file nào đó), máy tính sẽ phải tổng hợp từ các đĩa cứng. Nếu một đĩa cứng gặp trục trặc thì thông tin (file) đó coi như không thể đọc được và mất luôn. Thật may mắn là với công nghệ hiện đại, sản phẩm phần cứng khá bền nên những trường hợp mất dữ liệu như vậy xảy ra không nhiều. Có thể thấy RAID 0 thực sự thích hợp cho những người dùng cần truy cập nhanh khối lượng dữ liệu lớn, ví dụ các game thủ hoặc những người chuyên làm đồ hoạ, video số.

2. RAID 1

Đây là dạng RAID cơ bản nhất có khả năng đảm bảo an toàn dữ liệu. Cũng giống như RAID 0, RAID 1 đòi hỏi ít nhất hai đĩa cứng để làm việc. Dữ liệu được ghi vào 2 ổ giống hệt nhau (Mirroring). Trong trường hợp một ổ bị trục trặc, ổ còn lại sẽ tiếp tục hoạt động bình thường. Bạn có thể thay thế ổ đĩa bị hỏng mà không phải lo lắng đến vấn đề thông tin thất lạc. Đối với RAID 1, hiệu năng không phải là yếu tố hàng đầu nên chẳng có gì ngạc nhiên nếu nó không phải là lựa chọn số một cho những người say mê tốc độ. Tuy nhiên đối với những nhà quản trị mạng hoặc những ai phải quản lý nhiều thông tin quan trọng thì hệ thống RAID 1 là thứ không thể thiếu. Dung lượng cuối cùng của hệ thống RAID 1 bằng dung lượng của ổ đơn (hai ổ 80GB chạy RAID 1 sẽ cho hệ thống nhìn thấy duy nhất một ổ RAID 80GB).

3. RAID 0+1

Có bao giờ bạn ao ước một hệ thống lưu trữ nhanh nhẹn như RAID 0, an toàn như RAID 1 hay chưa? Chắc chắn là có và hiển nhiên ước muốn đó không chỉ của riêng bạn. Chính vì thế mà hệ thống RAID kết hợp 0+1 đã ra đời, tổng hợp ưu điểm của cả hai “đàn anh”. Tuy nhiên chi phí cho một hệ thống kiểu này khá đắt, bạn sẽ cần tối thiểu 4 đĩa cứng để chạy RAID 0+1. Dữ liệu sẽ được ghi đồng thời lên 4 đĩa cứng với 2 ổ dạng Striping tăng tốc và 2 ổ dạng Mirroring sao lưu. 4 ổ đĩa này phải giống hệt nhau và khi đưa vào hệ thống RAID 0+1, dung lượng cuối cùng sẽ bằng ½ tổng dung lượng 4 ổ, ví dụ bạn chạy 4 ổ 80GB thì lượng dữ liệu “thấy được” là (4*80)/2 = 160GB.

4. RAID 5

Đây có lẽ là dạng RAID mạnh mẽ nhất cho người dùng văn phòng và gia đình với 3 hoặc 5 đĩa cứng riêng biệt. Dữ liệu và bản sao lưu được chia lên tất cả các ổ cứng. Nguyên tắc này khá rối rắm. Chúng ta quay trở lại ví dụ về 8 đoạn dữ liệu (1-8) và giờ đây là 3 ổ đĩa cứng. Đoạn dữ liệu số 1 và số 2 sẽ được ghi vào ổ đĩa 1 và 2 riêng rẽ, đoạn sao lưu của chúng được ghi vào ổ cứng 3. Đoạn số 3 và 4 được ghi vào ổ 1 và 3 với đoạn sao lưu tương ứng ghi vào ổ đĩa 2. Đoạn số 5, 6 ghi vào ổ đĩa 2 và 3, còn đoạn sao lưu được ghi vào ổ đĩa 1 và sau đó trình tự này lặp lại, đoạn số 7,8 được ghi vào ổ 1, 2 và đoạn sao lưu ghi vào ổ 3 như ban đầu. Như vậy RAID 5 vừa đảm bảo tốc độ có cải thiện, vừa giữ được tính an toàn cao. Dung lượng đĩa cứng cuối cùng bằng tổng dung lượng đĩa sử dụng trừ đi một ổ. Tức là nếu bạn dùng 3 ổ 80GB thì dung lượng cuối cùng sẽ là 160GB.

5. JBOD

JBOD (Just a Bunch Of Disks) thực tế không phải là một dạng RAID chính thống, nhưng lại có một số đặc điểm liên quan tới RAID và được đa số các thiết bị điều khiển RAID hỗ trợ. JBOD cho phép bạn gắn bao nhiêu ổ đĩa tùy thích vào bộ điều khiển RAID của mình (dĩ nhiên là trong giới hạn cổng cho phép). Sau đó chúng sẽ được “tổng hợp” lại thành một đĩa cứng lớn hơn cho hệ thống sử dụng. Ví dụ bạn cắm vào đó các ổ 10GB, 20GB, 30GB thì thông qua bộ điều khiển RAID có hỗ trợ JBOD, máy tính sẽ nhận ra một ổ đĩa 60GB. Tuy nhiên, lưu ý là JBOD không hề đem lại bất cứ một giá trị phụ trội nào khác: không cải thiện về hiệu năng, không mang lại giải pháp an toàn dữ liệu, chỉ là kết nối và tổng hợp dung lượng mà thôi.

6. Một số loại RAID khác

Ngoài các loại được đề cập ở trên, bạn còn có thể bắt gặp nhiều loại RAID khác nhưng chúng không được sử dụng rộng rãi mà chỉ giới hạn trong các hệ thống máy tính phục vụ mục đích riêng, có thể kể như: Level 2 (Error-Correcting Coding), Level 3 (Bit-Interleaved Parity), Level 4 (Dedicated Parity Drive), Level 6 (Independent Data Disks with Double Parity), Level 10 (Stripe of Mirrors, ngược lại với RAID 0+1), Level 7 (thương hiệu của tập đoàn Storage Computer, cho phép thêm bộ đệm cho RAID 3 và 4), RAID S (phát minh của tập đoàn EMC và được sử dụng trong các hệ thống lưu trữ Symmetrix của họ). Bên cạnh đó còn một số biến thể khác, ví dụ như Intel Matrix Storage cho phép chạy kiểu RAID 0+1 với chỉ 2 ổ cứng hoặc RAID 1.5 của DFI trên các hệ BMC 865, 875. Chúng tuy có nhiều điểm khác biệt nhưng đa phần đều là bản cải tiến của các phương thức RAID truyền thống.

B. BẠN CẦN GÌ ĐỂ CHẠY RAID?

Để chạy được RAID, bạn cần tối thiểu một card điều khiển (có thể là onboard hoặc card rời) và hai ổ đĩa cứng giống nhau. Đĩa cứng có thể ở bất cứ chuẩn nào, từ ATA, Serial ATA hay SCSI, SAS tốt nhất chúng nên hoàn toàn giống nhau vì một nguyên tắc đơn giản là khi hoạt động ở chế độ đồng bộ như RAID, hiệu năng chung của cả hệ thống sẽ bị kéo xuống theo ổ thấp nhất nếu có. Ví dụ khi bạn bắt ổ 160GB chạy RAID với ổ 40GB (bất kể 0 hay 1) thì coi như bạn đã lãng phí 120GB vô ích vì hệ thống điều khiển chỉ coi chúng là một cặp hai ổ cứng 40GB mà thôi (ngoại trừ trường hợp JBOD như đã đề cập). Yếu tố quyết định tới số lượng ổ đĩa chính là kiểu RAID mà bạn định chạy. Chuẩn giao tiếp không quan trọng lắm, đặc biệt là giữa SATA và ATA. Một số BMC đời mới cho phép chạy RAID theo kiểu trộn lẫn cả hai giao tiếp này với nhau. Điển hình như MSI K8N Neo2 Platinum hay dòng DFI Lanparty NForce4. Bộ điều khiển RAID (RAID Controller) là nơi tập trung các cáp dữ liệu nối các đĩa cứng trong hệ thống RAID và nó xử lý toàn bộ dữ liệu đi qua đó. Bộ điều khiển này có nhiều dạng khác nhau, từ card tách rời cho dến chip tích hợp trên BMC. Đối với các hệ thống PC, tuy chưa phổ biến nhưng việc chọn mua BMC có RAID tích hợp là điều nên làm vì nói chung đây là một trong những giải pháp cải thiện hiệu năng hệ thống rõ rệt và rẻ tiền nhất, chưa tính tới giá trị an toàn dữ liệu của chúng. Một thành phần khác của hệ thống RAID không bắt buộc phải có nhưng đôi khi là hữu dụng, đó là các khay hoán đổi nóng ổ đĩa. Nó cho phép bạn thay các đĩa cứng gặp trục trặc trong khi hệ thống đang hoạt động mà không phải tắt máy (chỉ đơn giản là mở khóa, rút ổ ra và cắm ổ mới vào). Thiết bị này thường sử dụng với ổ cứng SCSI hoặc SAS và khá quan trọng đối với các hệ thống máy chủ vốn yêu cầu hoạt động liên tục. Về phần mềm thì khá đơn giản vì hầu hết các hệ điều hành hiện đại đều hỗ trợ RAID rất tốt, đặc biệt là Microsoft Windows. Nếu bạn sử dụng Windows XP, 2k3... thì bổ sung RAID khá dễ dàng. Quan trọng nhất là trình điều khiển nhưng thật tuyệt khi chúng đã được kèm sẵn với thiết bị.

Xin tóm tắt lại 1 chút về 5 loại mà ổ đĩa Dynamic

Simple
_Loại trung gian giữa việc chuyển đổi từ Basic sang Dynamic.
_Không có gì khác biệt

Spanned
_Khả năng tận dụng những phần còn trống của mọi ổ đĩa
_Hỗ trợ gộp chung từ 2 ổ cứng trở lên
_Dung lượng góp chung có thể không bằng nhau
_Tổng dung lượng bằng tổng dung lượng góp chung
_Tốc độ không cải thiện bao nhiêu
_Hư 1 ổ là đi hết
=>Thích hợp cho cá nhân dùng tiết kiệm hơn là triển khai trên Server

Stripted (hay là Raid-0)
_Tốc độ cao nhất do chia đều việc đọc-ghi giữa các ổ
_Hỗ trợ gộp chung từ 2 ổ cứng trở lên
_Dung lượng góp chung của các ổ phải bằng nhau
_Tổng dung lượng bằng tổng dung lượng góp chung
_Hư 1 ổ là đi hết
=>Thích hợp cho Server lưu dữ liệu lớn cần tốc độ truy xuất cao (ảnh, phim, nhạc, ...)

Mirror (hay là Raid-1)
_Chỉ có 2 ổ cứng
_Dung lượng góp chung của 2 ổ phải bằng nhau
_Tổng dung lượng bằng 1 ổ (ổ kia có nhiệm vụ ánh xạ, tức là sao lưu dự phòng nếu ổ kia bị cháy, hỏng vật lý, ...)
_Chỉ dùng 1 ổ.
_Nếu ổ chính hư dữ liệu thì ổ mirror cũng đi theo. Nhưng nếu ổ chính bị cháy hay do hư hỏng vật lý thì ổ mirror sẽ đảm nhiệm
=>Thích hợp cho việc chạy OS (Operating System - Hệ điều hành) cho máy thường (nếu thích chơi sang và phí) và máy chủ. An toàn vật lý (physical), không an toàn luận lý (logical)

Raid-5 (chỉ có gọi vậy)
_Từ 3 ổ trở lên, trong đó có 1 ổ sẽ là pariti (kiểm tra tính chẵn lẽ của dữ liệu)
_Dung lượng góp chung của 2 ổ phải bằng nhau
_Tổng dung lượng tính theo: dung lượng gộp chung * (hdd-1)
_Khả năng chịu lỗi, tăng tốc độ
=>Thích hợp cho máy thường (nếu thích chơi sang) và máy chủ

Kinh nghiệm cấu hình Các dòng máy chủ Server

Đối với các máy chủ của IBM và HP thì thường có đĩa setup đi kèm. Đĩa này có chức năng boot, sẽ đảm nhận hầu hết công việc của quá trình chuẩn bị để cài đặt server, bao gồm: cấu hình RAID, chia partition, nạp Driver cho bộ điều khiển RAID..., cuối cùng nó đòi bạn đưa CD 2003 vào, thế là xong. Nhưng đối với 1 số máy ko có đĩa này đi kèm, do thất lạc chẳng hạn, thì bạn có thể config thủ công, thông qua BIOS của bộ điều khiển RAID (thường là Ctrl+A hoặc Ctrl+C, bạn nên chú ý khi nó hiện ra thông báo trên màn hình).

Đối với những máy chủ dòng thấp, có ít ổ đĩa thì việc này rất đơn giản (thường thì có 2 ổ đĩa, bạn cấu hình RAID 1, thế là xong), nhưng đối với các máy chủ cấp trung (mid-range) và cấp cao (high-end) thì bạn ko thể xem thường. Nó có rất nhiều ổ đĩa, bạn có thể cấu hình kênh RAID thứ nhất ở dạng RAID 1 nhưng kênh RAID thứ 2 ở dạng RAID 5...do đó bạn phải có 1 tờ giấy, ghi rõ bạn đã cấu hình kênh nào với chế độ RAID nào, những ổ đĩa nào thuộc kênh nào... dán trên mặt server, để sau này có hỏng hóc thì mới dễ dàng sửa chữa (sau 1 tháng thì hầu như những cấu hình như thế nào cho server bạn sẽ quên hết).

Đối với các máy mà ko có đĩa setup đi kèm (thường là máy chủ của SUN Microsystem) thì quá trình nạp Driver RAID cũng sẽ khá khó khăn cho người chưa có kinh nghiệm nếu máy ko có ổ FDD. Có thể giải quyết vấn đề máy ko có ổ FDD để nạp Driver khi cài Win2003 bằng 2 cách:
1. Các chương trình tạo đĩa tự động cài đặt thường có chức năng tích hợp Driver (trước hết là cho RAID, sau đó là cho sound, NIC... ). Bạn có thể dùng các chương trình này để tạo 1 đĩa Win2003 tự động cài đặt, và thế là chỉ việc chọn boot từ CD, rồi lên mạng "tán gái" khoảng 1 tiếng, quay lại là có máy dùng. Tôi xin giới thiệu 2 phần mềm khá hay là nLite và WinFutureXP, xem thêm tại đây.
2. Cách thứ 2 là hầu hết các server đều có 1 card console, nó cho phép bạn remote từ xa và sử dụng rất nhiều tính năng hữu ích. Các card này thường gọi là ILOM hoặc ALOM card, được tích hợp sẵn trên máy chủ. Bạn nhìn mặt sau máy, nếu thấy port chuẩn RJ45 nào có ghi chữ Console thì chính là nó đấy. Bạn dùng 1 cable mạng (cáp chéo), nối nó với máy tính. Đọc tài liệu đi kèm xem IP mặc định của nó là bao nhiêu, bạn set IP của máy bạn để 2 thằng thuộc cùng 1 dải. Mở IE, FF gõ vào địa chỉ của port console này, tha hồ cấu hình các tính năng (tương tự như khi bạn cấu hình modem ADSL ).
Quan trọng nhất là bạn cần cấu hình Redirect..... Khi cấu hình chức năng này đầy đủ, ban có thể sử dụng các thiết bị gắn trên PC khác, bao gồm FDD, CD, Monitor, Key, Mouse, như thể là nó được gắn trực tiếp vào máy chủ vậy ( Thường thì bạn sẽ phải cài thêm Java lên máy PC, tức phải cài JRE1.5 để swr dụng được tính năng này). Khi đó, trên máy PC sẽ xuất hiện 1 cửa sổ ứng dụng, có menu Redirect. Click vào menu đó để có thể tick những thiết bị bạn muốn. Bạn chỉ cần chọn máy có FDD, thế là sẽ có ổ FDD cho máy chủ rồi đấy. Cách này cũng áp dụng cho những máy chủ ko có CD (tiết kiệm chi phi mà

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

Nên chọn CPU 2 nhân hay 4 nhân khi mua máy tính?

[IMG]

Các cpu đa nhân đã bắt đầu xuất hiện trên thị trường vào khoảng năm 2005. Intel là người tiên phong với những model đa nhân dành cho máy chủ đầu tiên dựa trên nền tảng x86/x86-64 của mình (dòng chip Itanium), AMD ngay sau đó đã có lời đáp trả bằng những model lõi kép Opteronvào tháng 4/2005. Intel lại nhanh chân hơn AMD khi giới thiệu chip Pentium D dành cho thị trường tiêu dùng phổ thông vào tháng 5/2005, sự kiện này được xem như là mốc khởi đầu cho cuộc cạnh tranh CPU đa nhân nhiều năm sau đó. Cuộc chiến này lan rộng trên nhiều mặt trận, từ máy tính để bàn sang máy tính xách tay, từ máy chủ qua đến smartphone và máy tính bảng. Số lượng nhân thay đổi chóng mặt, từ 2 nhân, lên 4 nhân, 6 nhân và một số chip 8 nhân đã được lên kế hoạch (kiến trúc Bulldozer của AMD). Tuy nhiên phổ biến nhất với đa số người dùng vẫn là những chip 2 nhân và 4 nhân, 6 nhân rất ít xuất hiện trên thị trường phổ thông, còn 8 nhân trở lên chỉ dành cho các hệ thống máy chủ. Vậy, câu hỏi đặt ra là, bạn nên trang bị chip 2 nhân hay 4 nhân khi mua máy tính mới?

[IMG]
Kiến trúc của chip Pentium D (2 nhân trên 2 đế riêng),
đây là CPU 2 nhân đời đầu dành cho PC

  • Tác dụng của đa nhân là gì?
Khi máy tính bạn có một CPU đa nhân, nói đơn giản máy của bạn có thể làm nhiều việc cùng một lúc (đa nhiệm), hoặc làm một việc lớn nhanh hơn bình thường, nếu ứng dụng đó được lập trình để hỗ trợ đa nhân. Khái niệm đa nhiệm rất dễ hiểu: bạn vừa có thể duyệt web, check mail thường xuyên, xử lý bảng tính Excel 20.000 ô, và các tác vụ trên đều diễn ra với tốc độ nhanh chóng, không bị trễ nãi do lần lượt chờ nhau như với các cpu đơn nhân. Khi bạn chỉ xử lý một tác vụ duy nhất, CPU sẽ phân bổ tác vụ này thành nhiều phần nhỏ hơn và chia cho các nhân cùng xử lý song song đồng thời, kết quả là công việc của bạn được xử lý nhanh hơn nhiều so với đơn nhân. Còn về tác vụ phổ biến khác của PC là chơi game, cpu sẽ phân bổ đối tượng 3D thành nhiều phần, nhiều khối, và mỗi nhân sẽ xử lý một phần đối tượng đó một cách song song, và sau đó kết hợp kết quả xử lý lại và xuất ra màn hình, rất đơn giản đúng không nào? Tóm lại, ta cứ hình dung 1 CPU đa nhân sẽ giống một quầy thu ngân, càng có nhiều nhân viên thì cùng lúc sẽ tính tiền được cho nhiều khách hàng hơn.

[IMG]
Kiến trúc của chip Intel Core 2 Quad, gồm 2 nhân core 2 duo ghép lại

  • Vậy 2 nhân với xung nhịp cao hay 4 nhân có lợi hơn?
Đây là câu hỏi mà bản thân tôi từng suy nghĩ khi so sánh 2 CPU core i7 đời đầu của laptop là i7 620M và i7 720QM. Một có 2 nhân nhưng xung nhịp cao (620M) và một 4 nhân nhưng xung nhịp thấp hơn (720QM).

[IMG]
Kiến trúc tiên tiến của chip Core i7

Nhìn chung với các tác vụ thông thường mà ta hay sử dụng hàng ngày, chip 2 nhân nhưng xung nhịp cao sẽ cho bạn cảm giác nhanh hơn so với chip 4 nhân (có xung nhịp thấp hơn), đơn giản vì còn rất nhiều phần mềm hiện nay vẫn được lập trình để tận dụng tối ưu CPU 2 nhân. Nhưng với các tác vụ nặng nề và được tối ưu cho 4 nhân thì chip 4 nhân sẽ nhanh hơn hẳn so với chip 2 nhân, dù xung nhịp có cao đến đâu (các game 3D nặng, các phần mềm biên tập phim, xử lý ảnh…)

Một ví dụ cụ thể: chip Intel Core i3 2100 (2 nhân xung nhịp 3,1GHz) trong máy tính tất cả trong một Gateway ZX6961-UB20P đạt được 2.639 điểm PCMark 7 (là ứng dụng để thể hiện năng lực làm việc thông thường hàng ngày), nhưng chỉ đạt 2.99 điểm Cinebench R11.5 (phép thử năng lực dựng hình 3D).

Trong khi đó chip Intel Core i5 2500S (4 nhân) với xung thấp hơn nhiều là 2,7GHZ có mức điểm PCMark 7 chỉ 2.190 điểm nhưng lại đạt đến 4.45 điểm CineBench. 

Điều đó chứng tỏ: với các tác vụ khá nặng và có tối ưu tốt cho đa nhân thì các cpu 4 nhân sẽ bỏ xa 2 nhân, dù xung nhịp có thấp hơn nhiều. Trong ví dụ trên, i5 2500s nhờ có bộ đệm lớn và số nhân nhiều hơn nên cho kết quả vượt trội i3 2100 trong những ứng dụng 3D nặng nề, game là một trong số đó.

  • Vậy phải lựa chọn như thế nào?
Nếu bạn đắn đo giữa 2 nhân và 4 nhân, bạn đã có câu trả lời dựa vào nhu cầu của mình: nếu bạn chỉ sử dụng cho các nhu cầu thông thường như lướt web với số tab lớn, check nhiều tài khoản email, chơi các game đơn giản như Angry Bird, chip 2 nhân sẽ đem lại trải nghiệm tốt nhất cùng với giá thành hợp lý hơn. Nếu bạn là người đam mê game 3D, chuyên dựng phim và chỉnh sửa hình ảnh, các cpu 4 nhân là lựa chọn tối ưu cho bạn, mặc dù có giá thành cao hơn nhưng nó giúp bạn tiết kiệm nhiều thời gian chờ đợi, mà cuối cùng bạn vẫn là người hưởng lợi.

[IMG]

Tuy nhiên, khi mua một chiếc máy mới, chúng ta thường có xu hướng chọn cấu hình mạnh hơn mức nhu cầu thông thường. Nhưng máy tính không chỉ bao gồm mỗi CPU, nó là sự kết hợp của nhiều thành phần khác, ví dụ CPU có nhanh tới đâu mà HDD chậm chạp, thiếu Ram… thì bạn vẫn phải chờ tải file và CPU sẽ ở trạng thái chờ, rất hao phí, đây gọi là hiện tượng “thắt cổ chai” (bottleneck). Do đó không nhất thiết phải là CPU mạnh nhất, mà hãy chọn một cấu hình cân bằng giữa CPU, mainboard, RAM, HDD/SSD và cả bộ nguồn (PSU – nếu là máy để bàn), đồng thời những thứ nhỏ khác như khả năng giải nhiệt của keo tản nhiệt và sự thoát khí của thùng máy, sẽ giúp máy bạn đạt được hiệu năng tối ưu và chạy ổn định trong thời gian dài. Cuối cùng, sự lựa chọn vẫn phụ thuộc nhiều nhất vào túi tiền và sở thích của bạn, bởi xét cho cùng, CPU 2 nhân hay 4-6 nhân cũng chỉ để phục vụ cho nhu cầu công việc, giải trí mà thôi, và nhiều hay ít nhân không quan trọng bằng sự hài lòng của chính bạn.

(ST)

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Migration User Accounts Between Forests

Migration User Accounts Between Forests
I. Giới Thiệu
- Migration users là việc dời các users từ Ou này sang Ou khác trong cùng Domain hoặc từ domain này đến domain khác trong cùng hoặc khác Forest.
- Với nhu cầu thực tế, khi 1 công ty mua lại 1 công ty khác, việc chuyển các objects từ domain của forest công ty kia sang domain của forest công ty mua lại là điều tất yếu.
Lưu ý: Khi thực hiện Migration thì buộc các Forest phải có Trust Relationship với nhau…...

- Nội dung :
* Thực hiện Migration users từ domain dom12.com (Forest2) sang domain dom11.com (Forest1)
* Kiểm tra hệ thống sau khi Migration Users

II.Chuẩn Bị

- 2 máy Win Server 2003 đã nâng cấp lên máy Domain Controller của 2 Forest (dom11.com và dom12.com).
- 2 máy nâng cấp Domain Functional Levels và Forest Functional Levels lên Windows Server 2003.
- Mỗi domain tạo 2 user: u1,u2 trên dom11.com; u10,u11 trên dom12.com
- Đồng bộ thời gian giữa 2 máy : net time /set \\192.168.1.12.
- Tại máy DC của domain “dom12.com” cài đặt migrationtool trong đĩa source 2k3>I386>ADMT>ADMigration.msi

III.Thực Hiện
1. Thực hiện Migration User từ domain “dom12.com” sang “dom11.com”

B1 : Chỉnh Forwarder chỉ về máy DNS của Enterprise Domain trong Forest kia (làm trên cả 2 máy): Start>Programs>Admin Tools>DNS, right click lên PC11>Properties, tab Forwarder>New, gõ tên domain bên kia và add địa chỉ DNS Server của Domain đó>Apply>Ok



B2 : Tạo Trust Relationship giữa 2 Forest (Trust Forest)


B3: Cho Administrator/DOM12 có quyền trên domain DOM11.COM:
Vào Active Directory Users and Groups>Builtin, chọn group Administrator> Properties, tab Member, Add Administrator/DOM12 vào>Apply>Ok


B4: Trên máy DC của Domain “dom12.com”,Start>Programs>Admin Tools>Active Directory Migration Tool.
- Hộp thoại mở ra, right click lên Active Directory Migration Tool>User Account Migration Wizard


- Màn hình Welcome>Next
- Màn hình tiếp theo, chọn option “Migrate now”>Next


- Chọn Source Domain (move user đi) và Target Domain (move user đến)>Next


- Hộp thoại User Selection, Add 2 user u10, u11>Next


- Hộp thoại Organization Unit Selection, Browse đến Target OU muốn move User đến>Next


- Hộp thoại Password Options, chọn option “Same as username”>Next


- Account Transition Option, để mặc định>Next
- User Option, để mặc định>Next
- Object Property Exclusion, để mặc định>Next
- Name Conflict, để mặc định>Next>Finish
- Hộp thoại Migration Progress, click Refresh>Migration thành công


2. Kiểm tra hệ thống sau khi Migration Users
Qua máy PC11 (domain “dom11.com” của Forest1), mở Active Directory Users and Groups, vào OU “khatechnt” thấy có 2 user u10, u11 được migration từ domain “dom12.com”


Test midle sidebar

Health

Được tạo bởi Blogger.

Người theo dõi

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Blog' Chung Lợi - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website Published by Mas Template
Proudly powered by Blogger