Featured Content Slider

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

RAID là gì và có mấy loại RAID ?

RAID là gì và có mấy loại RAID ?

Trong những năm gần đây việc đầu tư raid cho máy tính để bàn hoặc cho những hệ thống máy tính lớn là điều cần thiết. Trong vài năm trước nghe nói raid có thể gọi là một thứ gì đó xa xỉ nhưng so với thị trường thiết bị máy tính ngày nay và với việc bị mất dữ liệu, hư ổ cứng thì điều mọi người nghĩ đến đầu tiên là sử dụng raid cho hệ thống của mình. Đa số các mainboard ngày nay đều có công nghệ RAID hoặc có hỗ trợ slot cắm card RAID Controller nhưng không phải ai cũng biết cách sử dụng hiệu quả. Bài viết tôi chỉ giới thiệu thông tin cơ bản về RAID. Về cách cấu hình , create array... raid cứng cũng như raid mềm thì các bạn search trong diễn đàn hoặc google hoặc đọc thêm document của máy.





A. Vậy RAID LÀ GÌ ?

RAID là chữ viết tắt của Redundant Array of Independent Disks. Ban đầu, RAID được sử dụng như một giải pháp phòng hộ vì nó cho phép ghi dữ liệu lên nhiều đĩa cứng cùng lúc. Về sau, RAID đã có nhiều biến thể cho phép không chỉ đảm bảo an toàn dữ liệu mà còn giúp gia tăng đáng kể tốc độ truy xuất dữ liệu từ đĩa cứng. Dưới đây là năm loại RAID được dùng phổ biến:

1. RAID 0

Đây là dạng RAID đang được người dùng ưa thích do khả năng nâng cao hiệu suất trao đổi dữ liệu của đĩa cứng. Đòi hỏi tối thiểu hai đĩa cứng, RAID 0 cho phép máy tính ghi dữ liệu lên chúng theo một phương thức đặc biệt được gọi là Striping. Ví dụ bạn có 8 đoạn dữ liệu được đánh số từ 1 đến 8, các đoạn đánh số lẻ (1,3,5,7) sẽ được ghi lên đĩa cứng đầu tiên và các đoạn đánh số chẵn (2,4,6,8) sẽ được ghi lên đĩa thứ hai. Để đơn giản hơn, bạn có thể hình dung mình có 100MB dữ liệu và thay vì dồn 100MB vào một đĩa cứng duy nhất, RAID 0 sẽ giúp dồn 50MB vào mỗi đĩa cứng riêng giúp giảm một nửa thời gian làm việc theo lý thuyết. Từ đó bạn có thể dễ dàng suy ra nếu có 4, 8 hay nhiều đĩa cứng hơn nữa thì tốc độ sẽ càng cao hơn. Tuy nghe có vẻ hấp dẫn nhưng trên thực tế, RAID 0 vẫn ẩn chứa nguy cơ mất dữ liệu. Nguyên nhân chính lại nằm ở cách ghi thông tin xé lẻ vì như vậy dữ liệu không nằm hoàn toàn ở một đĩa cứng nào và mỗi khi cần truy xuất thông tin (ví dụ một file nào đó), máy tính sẽ phải tổng hợp từ các đĩa cứng. Nếu một đĩa cứng gặp trục trặc thì thông tin (file) đó coi như không thể đọc được và mất luôn. Thật may mắn là với công nghệ hiện đại, sản phẩm phần cứng khá bền nên những trường hợp mất dữ liệu như vậy xảy ra không nhiều. Có thể thấy RAID 0 thực sự thích hợp cho những người dùng cần truy cập nhanh khối lượng dữ liệu lớn, ví dụ các game thủ hoặc những người chuyên làm đồ hoạ, video số.

2. RAID 1

Đây là dạng RAID cơ bản nhất có khả năng đảm bảo an toàn dữ liệu. Cũng giống như RAID 0, RAID 1 đòi hỏi ít nhất hai đĩa cứng để làm việc. Dữ liệu được ghi vào 2 ổ giống hệt nhau (Mirroring). Trong trường hợp một ổ bị trục trặc, ổ còn lại sẽ tiếp tục hoạt động bình thường. Bạn có thể thay thế ổ đĩa bị hỏng mà không phải lo lắng đến vấn đề thông tin thất lạc. Đối với RAID 1, hiệu năng không phải là yếu tố hàng đầu nên chẳng có gì ngạc nhiên nếu nó không phải là lựa chọn số một cho những người say mê tốc độ. Tuy nhiên đối với những nhà quản trị mạng hoặc những ai phải quản lý nhiều thông tin quan trọng thì hệ thống RAID 1 là thứ không thể thiếu. Dung lượng cuối cùng của hệ thống RAID 1 bằng dung lượng của ổ đơn (hai ổ 80GB chạy RAID 1 sẽ cho hệ thống nhìn thấy duy nhất một ổ RAID 80GB).

3. RAID 0+1

Có bao giờ bạn ao ước một hệ thống lưu trữ nhanh nhẹn như RAID 0, an toàn như RAID 1 hay chưa? Chắc chắn là có và hiển nhiên ước muốn đó không chỉ của riêng bạn. Chính vì thế mà hệ thống RAID kết hợp 0+1 đã ra đời, tổng hợp ưu điểm của cả hai “đàn anh”. Tuy nhiên chi phí cho một hệ thống kiểu này khá đắt, bạn sẽ cần tối thiểu 4 đĩa cứng để chạy RAID 0+1. Dữ liệu sẽ được ghi đồng thời lên 4 đĩa cứng với 2 ổ dạng Striping tăng tốc và 2 ổ dạng Mirroring sao lưu. 4 ổ đĩa này phải giống hệt nhau và khi đưa vào hệ thống RAID 0+1, dung lượng cuối cùng sẽ bằng ½ tổng dung lượng 4 ổ, ví dụ bạn chạy 4 ổ 80GB thì lượng dữ liệu “thấy được” là (4*80)/2 = 160GB.

4. RAID 5

Đây có lẽ là dạng RAID mạnh mẽ nhất cho người dùng văn phòng và gia đình với 3 hoặc 5 đĩa cứng riêng biệt. Dữ liệu và bản sao lưu được chia lên tất cả các ổ cứng. Nguyên tắc này khá rối rắm. Chúng ta quay trở lại ví dụ về 8 đoạn dữ liệu (1-8) và giờ đây là 3 ổ đĩa cứng. Đoạn dữ liệu số 1 và số 2 sẽ được ghi vào ổ đĩa 1 và 2 riêng rẽ, đoạn sao lưu của chúng được ghi vào ổ cứng 3. Đoạn số 3 và 4 được ghi vào ổ 1 và 3 với đoạn sao lưu tương ứng ghi vào ổ đĩa 2. Đoạn số 5, 6 ghi vào ổ đĩa 2 và 3, còn đoạn sao lưu được ghi vào ổ đĩa 1 và sau đó trình tự này lặp lại, đoạn số 7,8 được ghi vào ổ 1, 2 và đoạn sao lưu ghi vào ổ 3 như ban đầu. Như vậy RAID 5 vừa đảm bảo tốc độ có cải thiện, vừa giữ được tính an toàn cao. Dung lượng đĩa cứng cuối cùng bằng tổng dung lượng đĩa sử dụng trừ đi một ổ. Tức là nếu bạn dùng 3 ổ 80GB thì dung lượng cuối cùng sẽ là 160GB.

5. JBOD

JBOD (Just a Bunch Of Disks) thực tế không phải là một dạng RAID chính thống, nhưng lại có một số đặc điểm liên quan tới RAID và được đa số các thiết bị điều khiển RAID hỗ trợ. JBOD cho phép bạn gắn bao nhiêu ổ đĩa tùy thích vào bộ điều khiển RAID của mình (dĩ nhiên là trong giới hạn cổng cho phép). Sau đó chúng sẽ được “tổng hợp” lại thành một đĩa cứng lớn hơn cho hệ thống sử dụng. Ví dụ bạn cắm vào đó các ổ 10GB, 20GB, 30GB thì thông qua bộ điều khiển RAID có hỗ trợ JBOD, máy tính sẽ nhận ra một ổ đĩa 60GB. Tuy nhiên, lưu ý là JBOD không hề đem lại bất cứ một giá trị phụ trội nào khác: không cải thiện về hiệu năng, không mang lại giải pháp an toàn dữ liệu, chỉ là kết nối và tổng hợp dung lượng mà thôi.

6. Một số loại RAID khác

Ngoài các loại được đề cập ở trên, bạn còn có thể bắt gặp nhiều loại RAID khác nhưng chúng không được sử dụng rộng rãi mà chỉ giới hạn trong các hệ thống máy tính phục vụ mục đích riêng, có thể kể như: Level 2 (Error-Correcting Coding), Level 3 (Bit-Interleaved Parity), Level 4 (Dedicated Parity Drive), Level 6 (Independent Data Disks with Double Parity), Level 10 (Stripe of Mirrors, ngược lại với RAID 0+1), Level 7 (thương hiệu của tập đoàn Storage Computer, cho phép thêm bộ đệm cho RAID 3 và 4), RAID S (phát minh của tập đoàn EMC và được sử dụng trong các hệ thống lưu trữ Symmetrix của họ). Bên cạnh đó còn một số biến thể khác, ví dụ như Intel Matrix Storage cho phép chạy kiểu RAID 0+1 với chỉ 2 ổ cứng hoặc RAID 1.5 của DFI trên các hệ BMC 865, 875. Chúng tuy có nhiều điểm khác biệt nhưng đa phần đều là bản cải tiến của các phương thức RAID truyền thống.

B. BẠN CẦN GÌ ĐỂ CHẠY RAID?

Để chạy được RAID, bạn cần tối thiểu một card điều khiển (có thể là onboard hoặc card rời) và hai ổ đĩa cứng giống nhau. Đĩa cứng có thể ở bất cứ chuẩn nào, từ ATA, Serial ATA hay SCSI, SAS tốt nhất chúng nên hoàn toàn giống nhau vì một nguyên tắc đơn giản là khi hoạt động ở chế độ đồng bộ như RAID, hiệu năng chung của cả hệ thống sẽ bị kéo xuống theo ổ thấp nhất nếu có. Ví dụ khi bạn bắt ổ 160GB chạy RAID với ổ 40GB (bất kể 0 hay 1) thì coi như bạn đã lãng phí 120GB vô ích vì hệ thống điều khiển chỉ coi chúng là một cặp hai ổ cứng 40GB mà thôi (ngoại trừ trường hợp JBOD như đã đề cập). Yếu tố quyết định tới số lượng ổ đĩa chính là kiểu RAID mà bạn định chạy. Chuẩn giao tiếp không quan trọng lắm, đặc biệt là giữa SATA và ATA. Một số BMC đời mới cho phép chạy RAID theo kiểu trộn lẫn cả hai giao tiếp này với nhau. Điển hình như MSI K8N Neo2 Platinum hay dòng DFI Lanparty NForce4. Bộ điều khiển RAID (RAID Controller) là nơi tập trung các cáp dữ liệu nối các đĩa cứng trong hệ thống RAID và nó xử lý toàn bộ dữ liệu đi qua đó. Bộ điều khiển này có nhiều dạng khác nhau, từ card tách rời cho dến chip tích hợp trên BMC. Đối với các hệ thống PC, tuy chưa phổ biến nhưng việc chọn mua BMC có RAID tích hợp là điều nên làm vì nói chung đây là một trong những giải pháp cải thiện hiệu năng hệ thống rõ rệt và rẻ tiền nhất, chưa tính tới giá trị an toàn dữ liệu của chúng. Một thành phần khác của hệ thống RAID không bắt buộc phải có nhưng đôi khi là hữu dụng, đó là các khay hoán đổi nóng ổ đĩa. Nó cho phép bạn thay các đĩa cứng gặp trục trặc trong khi hệ thống đang hoạt động mà không phải tắt máy (chỉ đơn giản là mở khóa, rút ổ ra và cắm ổ mới vào). Thiết bị này thường sử dụng với ổ cứng SCSI hoặc SAS và khá quan trọng đối với các hệ thống máy chủ vốn yêu cầu hoạt động liên tục. Về phần mềm thì khá đơn giản vì hầu hết các hệ điều hành hiện đại đều hỗ trợ RAID rất tốt, đặc biệt là Microsoft Windows. Nếu bạn sử dụng Windows XP, 2k3... thì bổ sung RAID khá dễ dàng. Quan trọng nhất là trình điều khiển nhưng thật tuyệt khi chúng đã được kèm sẵn với thiết bị.

Xin tóm tắt lại 1 chút về 5 loại mà ổ đĩa Dynamic

Simple
_Loại trung gian giữa việc chuyển đổi từ Basic sang Dynamic.
_Không có gì khác biệt

Spanned
_Khả năng tận dụng những phần còn trống của mọi ổ đĩa
_Hỗ trợ gộp chung từ 2 ổ cứng trở lên
_Dung lượng góp chung có thể không bằng nhau
_Tổng dung lượng bằng tổng dung lượng góp chung
_Tốc độ không cải thiện bao nhiêu
_Hư 1 ổ là đi hết
=>Thích hợp cho cá nhân dùng tiết kiệm hơn là triển khai trên Server

Stripted (hay là Raid-0)
_Tốc độ cao nhất do chia đều việc đọc-ghi giữa các ổ
_Hỗ trợ gộp chung từ 2 ổ cứng trở lên
_Dung lượng góp chung của các ổ phải bằng nhau
_Tổng dung lượng bằng tổng dung lượng góp chung
_Hư 1 ổ là đi hết
=>Thích hợp cho Server lưu dữ liệu lớn cần tốc độ truy xuất cao (ảnh, phim, nhạc, ...)

Mirror (hay là Raid-1)
_Chỉ có 2 ổ cứng
_Dung lượng góp chung của 2 ổ phải bằng nhau
_Tổng dung lượng bằng 1 ổ (ổ kia có nhiệm vụ ánh xạ, tức là sao lưu dự phòng nếu ổ kia bị cháy, hỏng vật lý, ...)
_Chỉ dùng 1 ổ.
_Nếu ổ chính hư dữ liệu thì ổ mirror cũng đi theo. Nhưng nếu ổ chính bị cháy hay do hư hỏng vật lý thì ổ mirror sẽ đảm nhiệm
=>Thích hợp cho việc chạy OS (Operating System - Hệ điều hành) cho máy thường (nếu thích chơi sang và phí) và máy chủ. An toàn vật lý (physical), không an toàn luận lý (logical)

Raid-5 (chỉ có gọi vậy)
_Từ 3 ổ trở lên, trong đó có 1 ổ sẽ là pariti (kiểm tra tính chẵn lẽ của dữ liệu)
_Dung lượng góp chung của 2 ổ phải bằng nhau
_Tổng dung lượng tính theo: dung lượng gộp chung * (hdd-1)
_Khả năng chịu lỗi, tăng tốc độ
=>Thích hợp cho máy thường (nếu thích chơi sang) và máy chủ

Kinh nghiệm cấu hình Các dòng máy chủ Server

Đối với các máy chủ của IBM và HP thì thường có đĩa setup đi kèm. Đĩa này có chức năng boot, sẽ đảm nhận hầu hết công việc của quá trình chuẩn bị để cài đặt server, bao gồm: cấu hình RAID, chia partition, nạp Driver cho bộ điều khiển RAID..., cuối cùng nó đòi bạn đưa CD 2003 vào, thế là xong. Nhưng đối với 1 số máy ko có đĩa này đi kèm, do thất lạc chẳng hạn, thì bạn có thể config thủ công, thông qua BIOS của bộ điều khiển RAID (thường là Ctrl+A hoặc Ctrl+C, bạn nên chú ý khi nó hiện ra thông báo trên màn hình).

Đối với những máy chủ dòng thấp, có ít ổ đĩa thì việc này rất đơn giản (thường thì có 2 ổ đĩa, bạn cấu hình RAID 1, thế là xong), nhưng đối với các máy chủ cấp trung (mid-range) và cấp cao (high-end) thì bạn ko thể xem thường. Nó có rất nhiều ổ đĩa, bạn có thể cấu hình kênh RAID thứ nhất ở dạng RAID 1 nhưng kênh RAID thứ 2 ở dạng RAID 5...do đó bạn phải có 1 tờ giấy, ghi rõ bạn đã cấu hình kênh nào với chế độ RAID nào, những ổ đĩa nào thuộc kênh nào... dán trên mặt server, để sau này có hỏng hóc thì mới dễ dàng sửa chữa (sau 1 tháng thì hầu như những cấu hình như thế nào cho server bạn sẽ quên hết).

Đối với các máy mà ko có đĩa setup đi kèm (thường là máy chủ của SUN Microsystem) thì quá trình nạp Driver RAID cũng sẽ khá khó khăn cho người chưa có kinh nghiệm nếu máy ko có ổ FDD. Có thể giải quyết vấn đề máy ko có ổ FDD để nạp Driver khi cài Win2003 bằng 2 cách:
1. Các chương trình tạo đĩa tự động cài đặt thường có chức năng tích hợp Driver (trước hết là cho RAID, sau đó là cho sound, NIC... ). Bạn có thể dùng các chương trình này để tạo 1 đĩa Win2003 tự động cài đặt, và thế là chỉ việc chọn boot từ CD, rồi lên mạng "tán gái" khoảng 1 tiếng, quay lại là có máy dùng. Tôi xin giới thiệu 2 phần mềm khá hay là nLite và WinFutureXP, xem thêm tại đây.
2. Cách thứ 2 là hầu hết các server đều có 1 card console, nó cho phép bạn remote từ xa và sử dụng rất nhiều tính năng hữu ích. Các card này thường gọi là ILOM hoặc ALOM card, được tích hợp sẵn trên máy chủ. Bạn nhìn mặt sau máy, nếu thấy port chuẩn RJ45 nào có ghi chữ Console thì chính là nó đấy. Bạn dùng 1 cable mạng (cáp chéo), nối nó với máy tính. Đọc tài liệu đi kèm xem IP mặc định của nó là bao nhiêu, bạn set IP của máy bạn để 2 thằng thuộc cùng 1 dải. Mở IE, FF gõ vào địa chỉ của port console này, tha hồ cấu hình các tính năng (tương tự như khi bạn cấu hình modem ADSL ).
Quan trọng nhất là bạn cần cấu hình Redirect..... Khi cấu hình chức năng này đầy đủ, ban có thể sử dụng các thiết bị gắn trên PC khác, bao gồm FDD, CD, Monitor, Key, Mouse, như thể là nó được gắn trực tiếp vào máy chủ vậy ( Thường thì bạn sẽ phải cài thêm Java lên máy PC, tức phải cài JRE1.5 để swr dụng được tính năng này). Khi đó, trên máy PC sẽ xuất hiện 1 cửa sổ ứng dụng, có menu Redirect. Click vào menu đó để có thể tick những thiết bị bạn muốn. Bạn chỉ cần chọn máy có FDD, thế là sẽ có ổ FDD cho máy chủ rồi đấy. Cách này cũng áp dụng cho những máy chủ ko có CD (tiết kiệm chi phi mà

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

Nên chọn CPU 2 nhân hay 4 nhân khi mua máy tính?

[IMG]

Các cpu đa nhân đã bắt đầu xuất hiện trên thị trường vào khoảng năm 2005. Intel là người tiên phong với những model đa nhân dành cho máy chủ đầu tiên dựa trên nền tảng x86/x86-64 của mình (dòng chip Itanium), AMD ngay sau đó đã có lời đáp trả bằng những model lõi kép Opteronvào tháng 4/2005. Intel lại nhanh chân hơn AMD khi giới thiệu chip Pentium D dành cho thị trường tiêu dùng phổ thông vào tháng 5/2005, sự kiện này được xem như là mốc khởi đầu cho cuộc cạnh tranh CPU đa nhân nhiều năm sau đó. Cuộc chiến này lan rộng trên nhiều mặt trận, từ máy tính để bàn sang máy tính xách tay, từ máy chủ qua đến smartphone và máy tính bảng. Số lượng nhân thay đổi chóng mặt, từ 2 nhân, lên 4 nhân, 6 nhân và một số chip 8 nhân đã được lên kế hoạch (kiến trúc Bulldozer của AMD). Tuy nhiên phổ biến nhất với đa số người dùng vẫn là những chip 2 nhân và 4 nhân, 6 nhân rất ít xuất hiện trên thị trường phổ thông, còn 8 nhân trở lên chỉ dành cho các hệ thống máy chủ. Vậy, câu hỏi đặt ra là, bạn nên trang bị chip 2 nhân hay 4 nhân khi mua máy tính mới?

[IMG]
Kiến trúc của chip Pentium D (2 nhân trên 2 đế riêng),
đây là CPU 2 nhân đời đầu dành cho PC

  • Tác dụng của đa nhân là gì?
Khi máy tính bạn có một CPU đa nhân, nói đơn giản máy của bạn có thể làm nhiều việc cùng một lúc (đa nhiệm), hoặc làm một việc lớn nhanh hơn bình thường, nếu ứng dụng đó được lập trình để hỗ trợ đa nhân. Khái niệm đa nhiệm rất dễ hiểu: bạn vừa có thể duyệt web, check mail thường xuyên, xử lý bảng tính Excel 20.000 ô, và các tác vụ trên đều diễn ra với tốc độ nhanh chóng, không bị trễ nãi do lần lượt chờ nhau như với các cpu đơn nhân. Khi bạn chỉ xử lý một tác vụ duy nhất, CPU sẽ phân bổ tác vụ này thành nhiều phần nhỏ hơn và chia cho các nhân cùng xử lý song song đồng thời, kết quả là công việc của bạn được xử lý nhanh hơn nhiều so với đơn nhân. Còn về tác vụ phổ biến khác của PC là chơi game, cpu sẽ phân bổ đối tượng 3D thành nhiều phần, nhiều khối, và mỗi nhân sẽ xử lý một phần đối tượng đó một cách song song, và sau đó kết hợp kết quả xử lý lại và xuất ra màn hình, rất đơn giản đúng không nào? Tóm lại, ta cứ hình dung 1 CPU đa nhân sẽ giống một quầy thu ngân, càng có nhiều nhân viên thì cùng lúc sẽ tính tiền được cho nhiều khách hàng hơn.

[IMG]
Kiến trúc của chip Intel Core 2 Quad, gồm 2 nhân core 2 duo ghép lại

  • Vậy 2 nhân với xung nhịp cao hay 4 nhân có lợi hơn?
Đây là câu hỏi mà bản thân tôi từng suy nghĩ khi so sánh 2 CPU core i7 đời đầu của laptop là i7 620M và i7 720QM. Một có 2 nhân nhưng xung nhịp cao (620M) và một 4 nhân nhưng xung nhịp thấp hơn (720QM).

[IMG]
Kiến trúc tiên tiến của chip Core i7

Nhìn chung với các tác vụ thông thường mà ta hay sử dụng hàng ngày, chip 2 nhân nhưng xung nhịp cao sẽ cho bạn cảm giác nhanh hơn so với chip 4 nhân (có xung nhịp thấp hơn), đơn giản vì còn rất nhiều phần mềm hiện nay vẫn được lập trình để tận dụng tối ưu CPU 2 nhân. Nhưng với các tác vụ nặng nề và được tối ưu cho 4 nhân thì chip 4 nhân sẽ nhanh hơn hẳn so với chip 2 nhân, dù xung nhịp có cao đến đâu (các game 3D nặng, các phần mềm biên tập phim, xử lý ảnh…)

Một ví dụ cụ thể: chip Intel Core i3 2100 (2 nhân xung nhịp 3,1GHz) trong máy tính tất cả trong một Gateway ZX6961-UB20P đạt được 2.639 điểm PCMark 7 (là ứng dụng để thể hiện năng lực làm việc thông thường hàng ngày), nhưng chỉ đạt 2.99 điểm Cinebench R11.5 (phép thử năng lực dựng hình 3D).

Trong khi đó chip Intel Core i5 2500S (4 nhân) với xung thấp hơn nhiều là 2,7GHZ có mức điểm PCMark 7 chỉ 2.190 điểm nhưng lại đạt đến 4.45 điểm CineBench. 

Điều đó chứng tỏ: với các tác vụ khá nặng và có tối ưu tốt cho đa nhân thì các cpu 4 nhân sẽ bỏ xa 2 nhân, dù xung nhịp có thấp hơn nhiều. Trong ví dụ trên, i5 2500s nhờ có bộ đệm lớn và số nhân nhiều hơn nên cho kết quả vượt trội i3 2100 trong những ứng dụng 3D nặng nề, game là một trong số đó.

  • Vậy phải lựa chọn như thế nào?
Nếu bạn đắn đo giữa 2 nhân và 4 nhân, bạn đã có câu trả lời dựa vào nhu cầu của mình: nếu bạn chỉ sử dụng cho các nhu cầu thông thường như lướt web với số tab lớn, check nhiều tài khoản email, chơi các game đơn giản như Angry Bird, chip 2 nhân sẽ đem lại trải nghiệm tốt nhất cùng với giá thành hợp lý hơn. Nếu bạn là người đam mê game 3D, chuyên dựng phim và chỉnh sửa hình ảnh, các cpu 4 nhân là lựa chọn tối ưu cho bạn, mặc dù có giá thành cao hơn nhưng nó giúp bạn tiết kiệm nhiều thời gian chờ đợi, mà cuối cùng bạn vẫn là người hưởng lợi.

[IMG]

Tuy nhiên, khi mua một chiếc máy mới, chúng ta thường có xu hướng chọn cấu hình mạnh hơn mức nhu cầu thông thường. Nhưng máy tính không chỉ bao gồm mỗi CPU, nó là sự kết hợp của nhiều thành phần khác, ví dụ CPU có nhanh tới đâu mà HDD chậm chạp, thiếu Ram… thì bạn vẫn phải chờ tải file và CPU sẽ ở trạng thái chờ, rất hao phí, đây gọi là hiện tượng “thắt cổ chai” (bottleneck). Do đó không nhất thiết phải là CPU mạnh nhất, mà hãy chọn một cấu hình cân bằng giữa CPU, mainboard, RAM, HDD/SSD và cả bộ nguồn (PSU – nếu là máy để bàn), đồng thời những thứ nhỏ khác như khả năng giải nhiệt của keo tản nhiệt và sự thoát khí của thùng máy, sẽ giúp máy bạn đạt được hiệu năng tối ưu và chạy ổn định trong thời gian dài. Cuối cùng, sự lựa chọn vẫn phụ thuộc nhiều nhất vào túi tiền và sở thích của bạn, bởi xét cho cùng, CPU 2 nhân hay 4-6 nhân cũng chỉ để phục vụ cho nhu cầu công việc, giải trí mà thôi, và nhiều hay ít nhân không quan trọng bằng sự hài lòng của chính bạn.

(ST)

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Migration User Accounts Between Forests

Migration User Accounts Between Forests
I. Giới Thiệu
- Migration users là việc dời các users từ Ou này sang Ou khác trong cùng Domain hoặc từ domain này đến domain khác trong cùng hoặc khác Forest.
- Với nhu cầu thực tế, khi 1 công ty mua lại 1 công ty khác, việc chuyển các objects từ domain của forest công ty kia sang domain của forest công ty mua lại là điều tất yếu.
Lưu ý: Khi thực hiện Migration thì buộc các Forest phải có Trust Relationship với nhau…...

- Nội dung :
* Thực hiện Migration users từ domain dom12.com (Forest2) sang domain dom11.com (Forest1)
* Kiểm tra hệ thống sau khi Migration Users

II.Chuẩn Bị

- 2 máy Win Server 2003 đã nâng cấp lên máy Domain Controller của 2 Forest (dom11.com và dom12.com).
- 2 máy nâng cấp Domain Functional Levels và Forest Functional Levels lên Windows Server 2003.
- Mỗi domain tạo 2 user: u1,u2 trên dom11.com; u10,u11 trên dom12.com
- Đồng bộ thời gian giữa 2 máy : net time /set \\192.168.1.12.
- Tại máy DC của domain “dom12.com” cài đặt migrationtool trong đĩa source 2k3>I386>ADMT>ADMigration.msi

III.Thực Hiện
1. Thực hiện Migration User từ domain “dom12.com” sang “dom11.com”

B1 : Chỉnh Forwarder chỉ về máy DNS của Enterprise Domain trong Forest kia (làm trên cả 2 máy): Start>Programs>Admin Tools>DNS, right click lên PC11>Properties, tab Forwarder>New, gõ tên domain bên kia và add địa chỉ DNS Server của Domain đó>Apply>Ok



B2 : Tạo Trust Relationship giữa 2 Forest (Trust Forest)


B3: Cho Administrator/DOM12 có quyền trên domain DOM11.COM:
Vào Active Directory Users and Groups>Builtin, chọn group Administrator> Properties, tab Member, Add Administrator/DOM12 vào>Apply>Ok


B4: Trên máy DC của Domain “dom12.com”,Start>Programs>Admin Tools>Active Directory Migration Tool.
- Hộp thoại mở ra, right click lên Active Directory Migration Tool>User Account Migration Wizard


- Màn hình Welcome>Next
- Màn hình tiếp theo, chọn option “Migrate now”>Next


- Chọn Source Domain (move user đi) và Target Domain (move user đến)>Next


- Hộp thoại User Selection, Add 2 user u10, u11>Next


- Hộp thoại Organization Unit Selection, Browse đến Target OU muốn move User đến>Next


- Hộp thoại Password Options, chọn option “Same as username”>Next


- Account Transition Option, để mặc định>Next
- User Option, để mặc định>Next
- Object Property Exclusion, để mặc định>Next
- Name Conflict, để mặc định>Next>Finish
- Hộp thoại Migration Progress, click Refresh>Migration thành công


2. Kiểm tra hệ thống sau khi Migration Users
Qua máy PC11 (domain “dom11.com” của Forest1), mở Active Directory Users and Groups, vào OU “khatechnt” thấy có 2 user u10, u11 được migration từ domain “dom12.com”


Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Giải Pháp Phòng Chống Sử Dụng Thiết Bị Di Động

Giải Pháp Phòng Chống Sử Dụng Thiết Bị Di Động

Chính sách trong công ty muốn ngăn chặn các máy tính không được sử dụng một số thiết bị như: USB Flash Drive, IPod, Wireless Interface, CD-Rom, DVD. Với các thiết bị lưu trữ di động như hiện nay đều đem lại thách thức đối với người quản trị hệ thống như: nguy cơ phát tán Virus, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình. Tuy nhiên bài viết dưới đây sẽ trình bày những giải pháp nhằm ngăn chặn các thiết bị trên khi sử dụng trong các phiên bản hệ điều hành Windows Server 2008 và Windows 7.

I. Mô hình lab


II. Yêu cầu
+ Trên máy Domain Controller (BKNP-DC08-01) cần thực hiện được:
- Move Computer ( BKNP-WRK-01) vào phòng ban: NHANSU
- Tạo Một Group Policy Object có tên là: Chan USB và CD-ROM
- Áp Chính sách Group Policy Obiect vừa tạo vào Phòng Ban: NHANSU
+ Trên máy Client ( BKNP-WRK-01)
- Kiểm tra cắm USB


Chuẩn bị:
- Một máy Windows Server 2008 (BKNP-DC08-01): Đã nâng cấp Domain Controller
- Một máy Client chạy HĐH Windows XP/7: Đã join domain


III. Thực hiện
- Cắm USB trên máy Client kiểm tra (có nhận) và ổ CD-ROM



Đứng trên máy BKNP-DC08-01

- Vào Active Directory Users and Computers -> chọn Computers -> nhấn chuột phải vào máy BKNP-WRK-01, chọn Move...


- Chuyển tới OU NHANSU > chọn OK




- Kết quả Computer BKNP-WRK-01 đã được chuyển sang OU NHANSU



- Vào Group Prolicy Management > Chuột phải chọn Group Policy Objects > Chọn New



- Đặt tên GPO (Chặn USB và CD-ROM) -> Chọn OK



- Nhấn chuột phải vào GPO vừa tạo -> chọn Edit


- Vào Computer Configuration\Policies\Administrative Templates: Policy Definitions > chuột phải chọn Add/Remove Templates...



- Chọn Add


Download fie:
ControlDevices.adm
- Tìm tới thu mục chứ file ControlDevices.adm > chọn Open


- Chọn Close


- Computer Configuration\Policies\Administrative Templates: Policy Definitions\Classic Administrative Templates(AMD)\Custom Policy Setting\Restrict Drives > chuột phải vào Disable USB chọn Edit




- tại Disable USB -> chọn Enabled



- tại Disable CD-ROM > Chọn Edit > chọn Enabled





- Trong GPO -> chuột phải vào OU NHANSU- > Chọn Link an Existing GPO


- Chọn GPO Chan USB va CD-ROM -> chọn OK





- Gõ lệnh: gpupdate /force


- Khởi động lại máy Client và đăng nhập với user andt



- Kiểm tra kết quả:


Hyena 8.0 - Công cụ quản trị hệ thống toàn diện

Nếu chỉ sử dụng các công cụ quản trị có sẵn trong Windows để quản lý một hệ thống mạng Windows với Active Directory sẽ là một thách thức. Với nhiều tên miền, hàng trăm máy chủ, máy trạm, hệ thống user… bạn khó có thể bao quát tất cả chúng. Chính vì thế, người quản trị hệ thống phải cần đến những công cụ hỗ trợ. Và Hyena là lựa chọn số một dành cho bạn.
Hyena ra đời nhằm mục đích cung cấp cho bạn một phương tiện quản trị toàn diện hệ thống mạng theo cách thức đơn giản, tập trung và duy nhất. Được sử dụng rộng rãi bởi hàng ngàn quản trị hệ thống trên toàn cầu, Hyena là một công cụ mà người quản trị không thể bỏ qua. Với giao diện và các thao tác quản lý được thiết kế theo kiểu Explorer, bao gồm cả menu ngữ cảnh tương ứng với tất cả các đối tượng, Hyena giúp bạn quản lý gần như toàn bộ các thành phần trong mạng như: user, group, share, domain, computer, service, printer, file, session, disk space, user right, job scheduling, processes, messaging…
Hyena có thể chạy trên bất kỳ hệ điều hành Windows nào dành cho máy trạm, kể cả Windows 7. Đồng thời, công cụ này có thể quản trị bất kỳ hệ điều hành Windows nào dành cho máy chủ, kể cả Windows Server 2008.
Để bắt đầu, bạn truy cập vào địa chỉ www.systemtools.com/hyena/download.htm, bấm liên kết Download tương ứng với phiên bản Hyena x86 (32-bit) hoặc Hyena x64 (64-bit). Sau khi giải nén, bạn nhắp đôi chuột lên file cài đặt và thực hiện theo các màn hình hướng dẫn để cài đặt Hyena vào hệ thống của mình. Ở đây, chúng tôi cài đặt Hyena lên máy tính đóng vai trò domain controller trên hệ điều hành Windows Server 2003.
Khi tiến trình cài đặt đã hoàn thành, bạn khởi chạy công cụ bằng cách vào menu Start > Programs > Hyena > Hyena. Ngay sau đó, màn hình chính của Hyena sẽ xuất hiện với các thành phần như: menu chức năng, thanh công cụ, khung bên trái với danh sách các nhóm đối tượng và khung bên phải hiển thị thông tin chi tiết tương ứng với mỗi đối tượng. Để bắt đầu quản trị một domain, bạn vào menu File > Add Domain. Tiếp theo, bạn điền tên domain vào mục Domain Name và bấm nút OK. Ngay sau đó, domain sẽ xuất hiện ở khung bên trái của cửa sổ Hyena.
Khi nhắp đôi chuột vào tên domain, tất cả các nhóm đối tượng tương ứng với domain đó sẽ xuất hiện. Tại đây, bạn có thể thực hiện tất cả các thao tác quản trị của mình. Chẳng hạn như, để quản lý các máy tính thuộc về domain này, bạn kích vào mục Computers. Ngay sau đó, bạn kích chuột phải lên tên một máy tính cụ thể cần quản lý. Tiếp theo, trong menu liệt kê đầy đủ các chức năng xuất hiện, bạn chọn một chức năng cần thực thi, ví dụ như Shutdown. Ngay sau đó, Hyena sẽ thực hiện yêu cầu của bạn.
Ngoài ra, Hyena cũng giúp bạn thu thập khá đầy đủ thông tin về các máy tính trong domain. Chẳng hạn, bằng chức năng Properties, bạn có thể hiển thị chi tiết về máy trạm như: số lượng card mạng với địa chỉ IP tương ứng, user nào đang đăng nhập vào, các phần mềm nào đang được cài lên máy trạm, danh sách các hotfix đã được cập nhật…
Với những nét ưu việt của mình, Hyena đã và đang trở thành một trợ thủ đắc lực cho những người quản trị nhằm tối ưu hoạt động của hệ thống mạng máy tính tại đơn vị mình.

(suu tam lam tu lieu)

Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2012

Hẹn giờ tắt máy tính

Start --> Run --> gõ "cmd" --> cửa sổ DOS hiện ra --> gõ tiếp "shutdown -s -t 900"
Trong đó:
shutdown_là từ khóa.
-s có thể thay bằng "-r","-a"
-s: viết tắt của từ shutdown
-r: viết tắt của từ restart
-a: là abort (hủy hạn giờ)
-t: kí hiệu thời gian
900: tương ứng với 15 phút (thời gian tính bằng giây)
Hoặc 1 cách nữa:
Start --> Run --> gõ "shutdown -i" --> cửa sổ remote shutdown dialog hiện ra, bạn làm theo hướng dẫn.
Cách cuối cùng ngắn gon hơn rất nhiều:
Start --> Run --> gõ "shutdown -s -f -t 900" tương ứng là 15 phút sau máy tính của bạn sẽ tắt

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

Linux Cluster

1.Mở đầu:
Bài viết tham khảo hình ảnh, nội dung từ trang chủ của LVS www.linuxvirtualserver.org. Ngoài ra, không copy từ mọi tài liệu khác.

2.Khái niệm LVS:
LVS (Linux Virtual Server) là một server ảo được xây dựng dựa trên một cluster của các server thật. Với người sử dụng thì họ chỉ nhìn thấy một server ảo đầy quyền năng, không hề biết đến kiến trúc bên trong.
Như mô tả của hình trên, khi sử dụng Virtual Server, người sử dụng bên ngoài Internet chỉ nhìn thấy một địa chỉ IP, đó là địa chỉ IP của Load balancer. Load balancer là máy tính duy nhất liên lạc, nhận request từ các máy ngoài Internet. Sau đó, load balancer sẽ có cơ chế tự động phân chia request đến các real server bên trong. Load balancer và các real server có thể liên lạc qua một đường truyền mạng LAN tốc độ cao, hoặc cũng có thể liên lạc qua mạng WAN.
Để đảm bảo hệ thống hoạt động trong suốt với người sử dụng cần đảm bảo các vấn đề sau:
  • Khi load balancer bị lỗi, phải có cơ chế back up tốt để hoạt động của hệ thống vẫn tiếp diễn.
  • LVS phải có cơ chế để tự động cập nhật khi có một real server tham gia hoặc tách khỏi hệ thống.
  • Khi một real server bị lỗi, hệ thống phải phát hiện được để đảm bảo hoạt động không bị gián đoạn.
  • Mặt khác để hệ thống có thể hoạt động hiệu quả cần giải quyết vấn đề phân chia request hợp lí, tránh tình trạng một real server xử lí quá tải, trong khi các real server khác lại ở tình trạng “idle”.
3.Các mô hình LVS:
Để triển khai ý tưởng của LVS, người ta có 3 mô hình chính:
  • Virtual server via NAT.
  • Virtual server via IP Tunneling.
  • Virtual server via Direct Routing.
Mỗi mô hình có một số ưu, khuyết điểm khác nhau. Tùy theo cách triển khai, tùy theo thực trạng và yêu cầu của hệ thống mà ta có thể lựa chọn một mô hình thích hợp.
4.Mô hình Virtual Server via NAT:
Với mô hình NAT, dòng chuyển dữ liệu được thực hiện như sau:
  • Client gởi request cho load balancer.
  • Load balancer phân chia request đến cho những real server.
  • Real server gởi reponse cho load balancer.
  • Load balancer chuyển reponse cho client.
Load balancer có 2 địa chỉ: một để liên lạc với client, một để liên lạc với các real server bên trong. Địa chỉ để liên lạc với real server cũng như địa chỉ của các real server có thể là địa chỉ private. Địa chỉ mà load balancer sử dụng để liên lạc với client là địa chỉ public (địa chỉ thật).
Điểm bất lợi lớn nhất của mô hình NAT là Load balancer có thể sẽ trở thành một “bottle neck” bởi vì tất cả request và reponse đều sẽ phải đi qua điểm này. Mô hình NAT chỉ có thể phục vụ khoảng 10-20 real server.
Để khắc phục nhược điểm của mô hình NAT, ta có thể sử dụng mô hình Tunnel hoặc mô hình Direct Routing tùy theo yêu cầu triển khai cụ thể.
5.Mô hình Virtual Server via Tunneling:
Với mô hình Tunneling, dòng dữ liệu lưu chuyển như sau:
  • Client gởi request cho Load balancer.
  • Load balancer phân chia request cho các real server.
  • Các real server sau khi được phân chia sẽ tự động liên lạc với các client bằng con đường riêng, không thông qua Load balancer.
Mô hình Tunneling sẽ giảm được tình trạng “bottle neck” cho load balancer. Load balancer chỉ đảm nhận nhiệm vụ lập lịch, phân chia request đến các real server. Với mô hình này, một load balancer có thể phục vụ cho khoảng 100 real server.
Tuy nhiên để triển khai mô hình Tunneling, bắt buộc tất cả real server phải cài hệ điều hành có cơ chế “IP Tunneling”. Muốn hiểu rõ hơn vấn đề này, các bạn tìm hiểu trên trang www.linuxvirtualserver.org.
6.Mô hình Virtual Server via Direct Routing:
Giống mô hình Tunneling, mô hình Direct Routing chỉ nhận request và lập lịch xử lí. Các real server sẽ gởi reponse cho client theo một con đường riêng, không thông qua load balancer. Mô hình Direct Routing đòi hỏi load balancer và real server phải thuộc cùng một segment vật lí.
7.Cách triển khai các mô hình:
Trước hết để Linux hỗ trợ LVS, cần thực hiện những việc sau:
  • Cài đặt gói các gói heartbeat.
  • Thực hiện các thao tác chặn ARP. (tìm hiểu kỹ hơn vấn đề này trên trang www.linuxvirtualserver.org).
  • Tùy theo mô hình chọn sử dụng (NAT, Tunneling, Direct Routing), ta sẽ chọn các cấu hình thích hợp.
  • Các bạn có thể tìm hiểu cách cấu hình cụ thể của từng mô hình trên trang www.linuxvirtualserver.org.
Ở đây chỉ trình bày cách cấu hình cụ thể với mô hình LVS via Direct Routing
8.Các bước triển khai LVS via Direct Routing:
a.Mô hình:
Ở đây, giới thiệu một mô hình chuẩn gồm 4 server: Load balancer Master (Master), Load balancer (Backup), Real1, Real2. Ta test thử với dịch vụ HTTP.
Khi client ở ngoài, gởi request http vào, request sẽ được tiếp nhận bởi Master, sau đó, Master sẽ tiến hành phân chia request cho Real1, và Real2.
Master và Backup sẽ dùng tín hiệu heartbeat để trao đổi với nhau, nếu Master có sự cố, thì Backup sẽ thay thế vai trò của Master, và Master trở thành Backup. Khi Master khắc phục xong sự cố, Backup sẽ nhường lại vai trò cho Master.
Master sẽ dùng ldirectord để monitor Real1 và Real2. Nếu Real1 có sự cố, Master sẽ chỉ chia request cho Real2 và ngược lại. Khi Real1 khắc phục xong sự cố, Master lại tiếp tục chia request cho Real1.
Giả sử hostname của các máy lần lượt là: Master, Backup, Real1, Real2. (Cần dùng lệnh uname –n để xác định chính xác hostname của các máy).
  • Master: eth0: 192.168.1.2, eth1: 172.16.1.2
  • Backup: eth0: 192.168.1.3, eth1: 172.16.1.3
  • Real1: 192.168.1.4
  • Real2: 192.168.1.5
  • VIP: 192.168.1.1 (IP ảo, Client gởi request đến IP này).
  • Master & Backup bắt buộc phải có 2 card mạng: eth0 để lắng nghe request từ bên ngoài, và eth1 để nhận tín hiệu heartbeat với nhau.
Đầu tiên, các bạn làm quen với mô hình chuẩn, gồm đủ các thành phần: Master, Backup, Real1, Real2. Khi đã hiểu nguyên tắc hoạt động, với các bài lab sau, mình sẽ hướng dẫn các bạn cách tinh chỉnh để giảm số server, mà vẫn đảm bảo được ý nghĩ logic của mô hình.
a.Cài đặt:
Cài đặt các gói heartbeat trên Master và Backup bằng lệnh:
# yum install heartbeat*
Hoặc cụ thể hơn, có thể cài đặt tất cả các gói rpm cho Master và Backup theo trình tự sau:
# rpm –ivh heartbeat-pils-1.2.3.cvs.20050927-1.rh.el.um.1.i386.rpm
# rpm –ivh libnet-1.1.2.1-1.rh.el.um.1.i386.rpm
# rpm –ivh perl-Authen-SASL-2.08-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh perl-Convert-ASN1-0.18-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh perl-Net-SSLeay-1.25-1.rh.el.um.1.i386.rpm
# rpm –ivh perl-IO-Socket-SSL-0.96-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh perl-Parse-RecDescent-1.94-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh perl-Mail-IMAPClient-2.2.9-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm -ivh heartbeat-stonith-1.2.3.cvs.20050927-1.rh.el.um.1.i386.rpm
# rpm –ivh perl-XML-NamespaceSupport-1.08-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh perl-XML-SAX-0.12-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh perl-ldap-0.3202-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh heartbeat-1.2.3.cvs.20050927-1.rh.el.um.1.i386.rpm
# rpm –ivh heartbeat-ldirectord-1.2.3.cvs.20050927-1.rh.el.um.1.i386.rpm
# rpm –ivh ipvsadm-1.21-1.rh.el.1.um.1.i386.rpm

Cài đặt các gói sau trên Real1 và Real2:
# rpm –ivh arptables-noarp-addr-0.99.2-1.rh.el.um.1.noarch.rpm
# rpm –ivh arptables_jf-0.0.7-0.3E.i386.rpm

Ghi chú: tùy theo cách cài đặt perl kèm theo hệ điều hành ban đầu, các gói perl trên đây có thể thiếu, hoặc có thể thừa. Có thể bổ sung cho đúng với cách cài đặt hệ điều hành. RPM download tại: http://www.ultramonkey.org
b.Các bước cấu hình:
Như đã trình bày, phần cấu hình cho Master sẽ gồm các bước sau:
  • Cấu hình hearbeat để Master và Backup lắng nghe nhau.
  • Cấu hình ldirectord để Master monitor Real1 và Real2
c.Cấu hình heartbeat:
Phần này cấu hình cho cả Master và Backup.
Các file cần cấu hình cho dịch vụ heartbeat là: file ha.cf, haresources, authkeys. Chép các file này vào thư mục /etc/ha.d
cp /usr/share/doc/heartbeat-1.2.3.cvs.20050927/ha.cf /etc/ha.d/
cp /usr/share/doc/heartbeat-1.2.3.cvs.20050927/authkeys /etc/ha.d/
cp /usr/share/doc/heartbeat-1.2.3.cvs.20050927/haresources /etc/ha.d
Sửa các tham số sau trong file ha.cf:
udpport 694 # Port để gởi tín hiệu heartbeat
bcast eth1 # Card mạng để gởi tín hiệu heartbeat
keepalive 2
deadtime 30
initdead 120
node Real1 Real2 ( Sử dụng lệnh uname –n để xác định chính xác tên server real).

Sửa các tham số sau trong file authkeys:
auth 1
1 sha1 lvsvtdns11
Chuẩn bị các script để đặt vào file haresources: ldirectord.cf.
Thêm dòng sau vào file haresources.
Master 192.168.1.1 \
ldirectord::ldirectord.cf \
LVSSyncDaemonSwap::master \
d.Cấu hình ldirectord:
Phần này cấu hình cho cả Master và Backup.
ldirectord cần có file ldirectord.cf. File này có nội dung như sau:
checktimeout=3
checkinterval=5
autoreload=yes
logfile=”/var/log/ldirectord.log”
virtual=192.168.1.1:80
real=192.168.1.4:53 gate 5
real=192.168.1.5:53 gate 5
request=”/.testpage”
receive=”test page”
scheduler=rr
service=http
checkcount=3
protocol=tcp
e.Cầu hình cho Real1, Real2:
  • Trên Real1 và Real2 cần cấu hình dịch vụ http.
  • Tạo một trang web test cho dịch vụ http, đặt trong Document Root.
echo “test page” > .testpage
  • Tạo IP ảo cho các Real1 và Real2:
ifconfig eth0:0 192.168.1.1 netmask 255.255.255.0
  • Chặn ARP trên IP ảo của các Real1 và Real2:
/usr/sbin/arptables-noarp-addr 192.168.1.1 start
/etc/init.d/arptables_jf save
/etc/init.d/arptables_jf restart
f.Test thử cấu hình:
  • Sau khi thực hiện xong các bước cấu hình trên, thực hiện test như sau:
  • Trên Master, thực hiện:
# service heartbeat start
  • Trên Backup, thực hiện:
# service heartbeat start
  • Trên Master, xem kết quả:
# ipvsadm
Nếu hiển thị kết quả bảng phân chia request có IP của Real1, Real2 là đúng.
  • Trên Backup, xem kết quả:
# ipvsadm
Vì backup, lúc này chỉ đang đứng lắng nghe, trên không có bảng phân chia request.
  • Từ Client kết nối dịch vụ http, hoạt động bình thường, dùng lại lệnh ipvsadm trên Master, sẽ thấy request được phân chia cho Real1 hoặc Real2.

Test midle sidebar

Health

Được tạo bởi Blogger.

Người theo dõi

Popular Posts

Popular Posts

Popular Posts

 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. Blog' Chung Lợi - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website Published by Mas Template
Proudly powered by Blogger